THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP





Góp lời với anh Hội cho vui. Đầu thập niên 1970 xuất hiện hai tay classical guitarists trẻ Bùi thế Dũng và Phùng tuấn Vũ. Tôi được xem các buổi trình diễn "chui" cũa Dũng vào những năm 1976, 1977 trong căn nhà nóng hầm hập dưới mái tôn. Dũng chơi Grand Sonate của Paganini, tôi vẫn còn nhớ Dũng ở trần, mồ hôi trên mặt rớt xuống cây đàn nhưng vẫn say sưa đánh. Kỷ niệm đó khó quên.

Sau này Dũng đi dạy, có một số học trò nổi danh bây giờ. Lúc Phùng tuấn Vũ mới sang Mỹ tôi có đi nghe chơi, rất vững, không hổ danh ở Việt Nam. Chỉ một vài năm lo cơm áo rồi không thấy tăm hơi nữa. Ở vùng Nam Cali có hội guitar Việt Nam với Nguyễn Trí Đoàn, Huỳnh hữu Đoan nhưng tôi không có dịp đi xem nữa...

Đôn


20262


Hello anh Đôn.
Đàn gì thì đàn nhưng phải thủ nồi cơm cái đã anh. Có lẽ chơi violon như Luân Vũ rồi tổ chức dạ tiệc này kia có ăn hơn cái vụ độc tấu Guitar này.


20268




Image

t ả n .m ạ n .v ề
G U I T A R .V I Ệ T .N A M

2.
____________________________________________________________________________
n g u y ễ n k h o a h ộ i




Rồi đến năm 1975, tôi gặp một "thằng bà con" từ Hà Nội vô Sài Gòn và lạ chưa, hắn cũng biết chơi guitar cổ điển (cứ tưởng mày mãi bắn máy bay).
Qua trò chuyện và trao đổi, tôi thật lòng ngạc nhiên khi thấy nó cũng biết chơi cú rasgueado và hắn còn chơi bản Vũ khúc Tây ban Nha cho tôi nghe nữa chứ trời! (À mà nên nói rõ nó là cậu ấm, có bố làm lớn ghê lắm!!)
Lúc đó, lòng tôi không bao giờ tin và không chịu chấp nhận được cái sự kiện là miền Bắc chúng nó khá thế, giỏi thế? Nhưng hôm nay, ngồi gõ bài này tôi thấy đúng là ngành guitar cổ điển họ giỏi thật và con chim đầu đàn của miền Bắc năm xưa là nhạc sĩ Tạ Tấn, ông sinh năm 1925 (cùng thời với ba tôi) và học chơi guitar năm 15 tuổi.
Ông giảng dạy tại Nhạc Viện Hà Nội và là thầy, đàn anh của những tay đàn như Trần văn Thân, Ngô đăng Quang và Đặng ngọc Long vân vân... điều đáng lưu ý là ông soạn nhạc cho guitar theo kiểu là một bài mới, giai điệu và kỹ thuật của guitar, chứ không theo kiểu chuyển soạn Tôi đưa em sang sông của Đỗ đình Phương miền Nam.
Khi nghe một bản của anh Đỗ đình Phương chuyển soạn, ta thấy dòng nhạc chính (melody) được diễn tấu với những nốt hoa mỹ luyến láy kiểu bác Vô Thuờng và bên cạnh đó là những câu vuốt, nốt rãi hợp âm theo giai điệu chính mà thôi, chính vì vậy, sau khi nghe một hồi, ta thấy chán và cảm thấy thà nghe ca sĩ hát với dàn nhạc đệm còn hơn.

Còn về kỹ thuật đệm nhạc, chơi các điệu bolero, tango cho em hát, mình hát cua gái thì sao? Món này trai Bắc dở ẹc, thua trai miền Nam xa mấy dặm đường và ngạc nhiên biết mấy khi nghe "thằng bà con" nó kể là chúng nó biết bài "đám cưới nhà binh" và "túp lều lý tưởng" mới là tiếu ngạo giang hồ không kia chứ?


. . . . . .


Sau trận dịch ghẻ cuối những năm 70's thì phong trào chơi guitar cổ điển ở Sài Gòn bỗng nổi lên dữ dội, lên đến độ người ta tự hỏi cái cách móc ba ngón tay kia có dính líu đến động tác gãi ghẻ hay không?

Phong trào này gồm các tay chơi guitar trẻ của thành phố, tập trung tại nhà văn hóa quận Phú Nhuận với những tay chơi hàng đầu như Phùng tuấn Vũ và Huỳnh hữu Đoan.
Nếu ta lang thang qua khu bán nhạc đường Calmette ngày ấy sẽ thấy tập nhạc có hình ông già ngậm ống vố đeo mắt kính chơi guitar tên là Andre Segovia. Lật ra bên trong, trang đầu sẽ là bài Sérénade của Schubert được ông chuyển soạn cho guitar và kế đó là chủ đề Tiếng sáo thần và các biến tấu của Mozart, bài của Gluck trích từ nhạc kịch Orpheus vân vân...

http://www.youtube.com/watch?v=dmvr7pRE ... re=related

Và khi mà trình độ chơi đàn guitar lên cao, các nhạc sĩ cũng đòi hỏi cây đàn hay hơn, tốt hơn và giới nghệ nhân làm đàn cũng phải phát triển tay nghề, tìm tòi chất liệu phù hợp sao cho tiếng đàn vang dội, trong sáng và dễ chơi hòng đáp ứng những nhu cầu mới về cả hai mặt kỹ thuật và mỹ thuật.
Như đã có nói sơ qua trong bài đầu, các hiệu bán đàn guitar danh tiếng miền Nam ngày đó tập trung ở đường Hồ văn Ngà và Nguyễn thiện Thuật, hiệu đàn Phúc Lợi , Phúc Châu, Quảng Thành v.v...

Bước vào tiệm ta sẽ thấy đàn treo la liệt, đủ loại đủ kiểu với nhiều giá khác nhau.
Từ những cây đàn đánh gôm lắc dày cộp bóng loáng mà thầy cô mua làm phần thưởng học sinh cuối niên khóa, cho đến đàn chơi được của một anh sinh viên có máu văn nghệ. Nói chung dàn đàn treo bên ngoài cũng chỉ là "hàng chợ", nghĩa là đàn được làm sẳn và bán cho khách chung chung không có yêu cầu gì đặc biệt. Nhưng nếu bạn yêu cầu một cây đàn thật sự đúng chuẩn để chơi nhạc cổ điển, dây đàn phải cách nhau đúng tiêu chuẩn quốc tế để chơi cú trémolo trên dây Si mà không sợ đụng dây Mi thì bạn phải đặt làm. Bạn càng cầu kỳ bao nhiêu thì số tiền bỏ ra sẽ lớn bấy nhiêu, vì là hàng đặt mà lại.


. . . . . .


Tưởng cũng nên nói thêm vài chi tiết kỹ thuật làm cây đàn guitar, cầm một cây guitar lên, bạn thấy mặt đàn có vân chạy dọc và chia thành hai phần bởi một đường cắt chính giữa. Đó là hai phần đối xứng của một tấm gỗ thông được cắt làm hai rồi banh ra như ta mở một quyển vở, cuốn sách.
Thí dụ bạn tìm được một miếng gỗ thông tốt, đủ tiêu chuẩn làm mặt đàn dày chừng 10mm, bạn sẽ cho vào máy cưa rọc thành hai phần dày bằng nhau, trừ đường cắt và bào láng còn mỗi miếng là 3.5mm. Mở ra theo cách như ta mở cuốn vở, sớ dày nằm sát tâm sớ thưa nằm ngoài và nối hai tấm đó lại, ta sẽ có một mặt đàn guitar có vân đối xứng qua một trục chính giữa.
Điều này rất quan trọng vì nhờ đó, mặt đàn sẽ có số vân gỗ đồng nhất của hai phía và một rung động từ dây đàn truyền qua mặt đàn sẽ được chuyển tải trung thực và đồng bộ hơn từ một mặt đàn làm từ một mảnh, hay từ hai miếng ván khác nhau, khác cây thông, khác độ cứng, ít nhiều nhựa hơn hay cũ, mới hơn v.v...

Nói qua gỗ thông, ta chợt nghĩ đến cây thông ở Đà Lạt thơ mộng năm xưa? Thưa, chẳng phải là thông đó, mà là thông từ phía trời tây, thứ thông mà người ta lấy cây nhỏ để trang hoàng Giáng Sinh còn có tên là Spruce. Loại Sitka Spruce hiện nay được xem là gỗ tốt nhất để làm mặt đàn guitar và ngay sau đó đứng hạng nhì là gỗ Red Cedar (cả hai thứ này lại có rất nhiều tại vùng tôi đang ở, và tôi cũng có vài người bạn đang sống bằng nghề bán gỗ làm đàn từ vùng này cho các nghệ nhân làm đàn toàn thế giới).


....cũng chưa hết....



20269




Image

t ả n .m ạ n .v ề
G U I T A R .V I Ệ T .N A M

3.
____________________________________________________________________________
n g u y ễ n k h o a h ộ i




Vậy, trước năm 75, các nghệ nhân làm đàn guitar ở Sài Gòn lấy gỗ thông ở đâu để làm đàn?
Nghe nói là họ lấy gỗ thông bao bì, từ các kiện hàng, các khung gỗ đóng để chở quân trang, quân dụng từ Mỹ qua trong thời chiến, tất cả các miếng gỗ tưởng như củi đó đã được thu gom về lọc lựa để đóng, làm mặt đàn cho người yêu đàn Guitar Việt Nam thời đó.
Cuối những năm 70's ở Sài Gòn bỗng xuất hiện một nhà làm đàn nổi tiếng, chất lượng qua mặt cả những hiệu đàn kỳ cựu như Phúc Lợi và Phúc Châu, đó là hiệu đàn Nghệ Thuật của ông Nguyễn văn Tâm ở Gò Vấp. Nghe nói ông là thợ chính của Phúc Lợi sau ra mở tiệm làm đàn riêng chuyên biệt làm đàn đặt cho giới chơi Guitar cổ điển.
Đàn của ông làm nhìn rất đẹp, có âm thanh hay và đúng tiêu chuẩn. Bản thân tôi cũng có được một cái (mua lại từ một người bạn khi ổng đang túng tiền) và hết sức hài lòng về chất lượng cây đàn này. Người bạn bán đàn cho tôi xong, lại kiếm được món tiền nên đặt làm cây khác, trong thời gian chờ đợi lấy đàn thì ông Tâm qua đời trong một cuộc xung đột với hàng xóm bắt nguồn từ chuyện con nít .

Thời gian kế tiếp là thời kỳ đen tối cho dân chơi đàn VN vì không còn người làm đàn đạt chuẩn như ông Tâm nữa, hiệu đàn Hồng cũng làm đàn khá, nhưng so sánh với ông Tâm thì vẫn còn thua xa lắm.
Tưởng cũng nên nói thêm về những sai lầm cơ bản trong nghề làm đàn VN thời ấy, là người ta cứ cố chuyên chú vào cái bề ngoài của cái đàn mà chẳng quan tâm mấy đến chất lượng âm thanh, có nhiều khi ta thấy những cây đàn cổ điển có vân gỗ phía lưng và hông của cẩm lai, của gõ đỏ, cầm lên tay nặng trĩu và phát âm điếc đặc.
Vì sao? Vì người đặt chẳng biết mẹ gì về âm học mà chỉ muốn cái hào nhoáng bên ngoài. Người thợ cũng vậy, dán đàn thì dùng keo hải thuyền cho chắc, vecni thì dùng loại đánh xa lông mà hoàn toàn không biết là thứ keo quỷ đó, thứ vecni đó nó giết chết âm thanh như một bàn tay thô bạo bóp cổ cô ca sĩ ẻo lả.
Chủ nhân cây đàn thì khoe rằng "đàn này tôi đặt hết 3 chỉ, toàn cẩm và gõ đấy anh ạ", có lẽ người thợ "mộc" kia cũng chẳng cần, khách muốn sao thì ta làm vậy, có tiền mua gạo là tốt rồi. Thời đói khổ mà.


. . . . . .

Sau đó, tôi bỏ đi xa và không còn nắm vững tình hình làm đàn ở VN như thế nào. Chỉ theo dõi trên net và nghe nói có anh Cường Luthier khá nổi tiếng. Đây là link có viết về anh.

http://vietbao.vn/Van-hoa/Luthier-Cuong ... 93428/181/

Cách nay 5 năm tôi có mua được một cây đàn đã qua sử dụng. Người bán quả quyết rằng đây là đàn do anh Cường tự tay làm và tôi có chơi thử. Đàn khá nặng, gỗ đẹp và âm thanh ấm nhưng hơi kém vang. Nhìn vào bên trong hình như có thêm một hộp cộng hưởng nhỏ (vì vậy nên nặng?) Tuy nhiên không có bằng chứng rõ ràng đây là cái đàn do anh Cường làm nên tôi không thể nói chắc cho được.
Càng lúc cuộc sống càng dễ thở và với sự phát triển của internet nhất là eBay và Paypal cũng đã chấn nhận thanh toán trực tuyến từ VN nên việc mua một cây đàn ngoại cũng không còn khó khăn nữa. Chuyện một tay chơi đàn cổ điển VN mua 1 cây Ramirez từ quê hương của Tây ban cầm bỗng dễ như ăn cơm sườn.


. . . . . .


Từ lâu, người ta đi xem trình tấu guitar cổ điển thì sẽ thấy người chơi đàn ôm cái đàn theo một tư thế nghiêm túc, chân trái kê lên cái bục nhỏ và nhìn khá táo bón (!) Không tin thì chứ vô youtube gõ tên bác Dang Thao là ra khối video bác í đang chơi.
Để rồi gần đây có dịp ghé nhà người bạn cũ ở VN tôi thấy thằng bé con đang ngồi chơi guitar theo một kiểu khá thoải mái và lạ tai. Hỏi thăm thì nó nói là chơi kiểu Hàn Quôc của Sungha Jung.
Đó là một lối chơi phóng túng và thoải mái không bị ràng buộc nhiều bởi quy luật và dĩ nhiên cần nhiều cảm hứng, tài năng và tâm hồn. Còn như cứ ngồi nhái theo cho giống cậu Sungha Jung như nhiều cậu bé VN hiên nay, tôi sợ họ thay vì theo một lối mòn này lại chạy theo một lối mòn mới trong sự bắt chước monkey see, monkey do.
https://www.youtube.com/watch?v=5LNTXE9e5ok

Tưởng cũng nên nói rõ là lối chơi cũng như cái đàn cậu chơi thì giống lối chơi phổ thông nhạc nhẹ chứ chẳng thể gọi là cổ điển được. Tôi cũng chưa xem cậu biểu diễn những ngón nhanh (có lẽ chưa xem cậu chưa đủ nhiều?) những kỹ thuật nhạc cụ cần thiết của một nhạc công guitar như John Williams trong bản Concierto de Aranjuez.

Nhưng có lẽ tôi đã đòi hỏi hơi quá mất rồi. Sorry cưng ;)


. . . . . .


Nếu có lần bạn lên dây đàn guitar hay bạn thấy người ta lên dây, lấy tay vặn mấy cái núm và bạn bỗng thấy ớn, một cảm giác khó chịu sợ hãi khi cảm tưởng một vật sắp đứt, sắp bể lẩn lút trong đầu và lúc đó bạn sẽ cảm nhận được ý nghĩa của câu "căng như dây đàn".

Quả là dây đàn căng thật và phải căng như vậy mới có thể phát âm trong sáng, vang dội và dễ dàng cho người chơi.
Nếu bạn muốn biết lực kéo của sáu sợi dây nọ là bao nhiêu, bạn cứ tưởng tượng có một thằng người đang leo lên ngồi trên đầu cây đàn đè xuống và toàn lực đè chừng 150 pounds đến 180 pounds tùy theo dây loại gì.
Bởi thế, ngày còn nhỏ tôi thường thấy những con ngựa đàn bung keo với sáu sợi dây tòng teng, thấy những cái cần đàn cong đến độ không còn bấm được nữa và thấy một cái cần đàn làm ở Hàn quốc có cái thanh sắt nằm bên trong. Lý do chỉ là vì sức kéo của dây quá mạnh đã làm cần đàn cong, mặt đàn méo và ngựa đàn hở, nhớm giò.

Nhìn vào cấu trúc của một cây guitar cổ điển, ta sẽ thấy ngay lỗ phát âm nằm chính giữa, cắt ngang lực chịu của mặt đàn và lỗ phát âm chính là khu vực mà lực kéo của dây "phá", là nơi cần vật liệu chắc chắn để chịu lực kéo, là điểm yếu nhất thì đó lại là cái lỗ, là một khuyết điểm về kiểu dáng khó khắc phục được. theo tôi đó là khuyết điểm về cấu trúc vật lý tệ nhất của đàn Guitar.
Có người đề nghị là hãy khoét hai lỗ phát âm chữ f hai bên như violon, như cello để cho mặt đàn tại đó được nguyên vẹn, bên dưới sẽ làm các nan gỗ hình rẽ quạt chịu lực và giúp cho guitar vững mạnh chịu lực tốt hơn, người thợ đã thử nghiệm làm y như thế, tiếc thay, nhìn vào cây đàn ấy nó chẳng là cây guitar nữa, mà là một thứ gì khác, là viotar, guiolon hay gì đó mà chẳng ai thèm mua cả.

Có lẽ chính vì điểm yếu không thể khắc phục của lỗ phát âm làm cho đàn guitar dễ bị cong cần, mà khi đã cong cần thì khó, rất khó để sửa lại cho thẳng vì nếu có sửa lại thì mai mốt nó lại cong tiếp, đó là lý do ta thấy rất ít cây guitar nào còn sống sót từ thời xưa đến nay như đàn violon của Strad, của nhà Amati...nếu có thì nó cũng nằm đâu đó trong gác thượng đóng dày bụi thời gian với cái cần cong, cái mặt đàn méo mó chẳng thể chơi gì được.
Nếu nói dây đàn Guitar căng thì cũng chưa đúng hẳn, vì nếu so với sức căng của dây piano thì dây guitar chẳng là nghĩa địa gì. Nếu có dịp, bạn nhìn vào dàn dây đàn piano mới thấy nó căng khủng khiếp thế nào, nghe nói tổng số lực kéo của các dây piano là 70 ngàn pounds, gần gấp đôi trọng tải của hai xe lô bồi 18 bánh, và mỗi nốt nhạc của piano sẽ có từ 1, 2 hay ba sợi dây góp phần để tạo nên, nên âm thanh piano hùng mạnh, phong phú và âm vang hơn guitar nhiều lắm.

Ok, chịu thua piano đi, nhưng tại sao guitar lại kêu thua cái thằng to họng là violon, nó có bốn dây không căng mấy và cái thùng nhỏ xíu thôi mà?
Xin trả lời là vì âm thanh violon cao hơn guitar 1 quãng tám, nằm ngay âm vực tai con người cảm nhận tốt nhất, đã vậy, sợi dây violon được mớ lông đuôi ngựa có dính nhựa thông kích liên tục, nên âm thanh luôn luôn liền lạc, liên lĩ chứ không "tưng" một phát rồi im như guitar.
Chính vì phát âm nhỏ nên guitar không thể chen chân vô dàn nhạc giao hưởng cổ điển được. Cùng lắm thì lâu lâu có người soạn cho guitar một concerto chơi với dàn nhạc và rõ ràng guitar phải cần micro và loa cùng ampli hỗ trợ chứ bằng không thì các nhạc cụ khác của dàn giao hưởng chúng nó sẽ nuốt guitar như rắn nuốt con nhái bén bên bờ ruộng quê ta năm nào...

https://www.youtube.com/watch?v=e9RS4biqyAc

Chính vì những khuyết điểm không thể khắc phục đó thành ra guitar nên chấp nhận đứng yên ở vị trí của mình. Cho dù những nỗ lực của Andre Segovia có lớn lao đến đâu, có cố gắng thế nào đi nữa thì những bản mà tác giả đã soạn cho một nhạc cụ khác như bản Chaconne của Bach soạn cho violon solo, mà nay ta nghe Segovia chơi trên guitar thì quả là phải cố gắng mới nghe được hết bài.(chứ không vì tai trâu...)

Những nốt nhạc kéo dài như nốt trắng, nốt tròn được thể hiện trên violon đầy đủ độ dài thì qua guitar chỉ là một tiếng tưng ngắn ngủn, thính giả không còn cảm nhận được các bè, kỹ thuật hòa âm của Bach nhiều nữa mà chỉ còn nghe giai điệu chính và đó là thất bại của Guitar khi đã cố gắng làm điều bất khả.

Kết luận của tôi là nếu guitar được sử dụng trong phạm vi của guitar mà không cố bao sân, không quá cố gắng làm điều quá khả năng, thì guitar sẽ luôn có một chỗ đứng trong lòng người yêu nhạc, của người yêu mến guitar, sẽ luôn là một nhạc cụ không thể thiếu trong một đêm hè khó ngủ bên hiên nhà.


...hết rồi . /.



20277


anh Hội wrote:Lúc đó, lòng tôi không bao giờ tin và không chịu chấp nhận được cái sự kiện là miền Bắc chúng nó khá thế, giỏi thế? Nhưng hôm nay, ngồi gõ bài này tôi thấy đúng là ngành guitar cổ điển họ giỏi thật và con chim đầu đàn của miền Bắc năm xưa là nhạc sĩ Tạ Tấn, ông sinh năm 1925 (cùng thời với ba tôi) và học chơi guitar năm 15 tuổi.


đồng ý với anh H... dân Hà Nội, những sinh viên theo học Nhạc Viện đều đàn rất điêu luyện và trí thức nữa... một ví dụ điển hình là các anh con của nhạc sĩ Tử Phác, hồi mới qua Pháp C có dịp quen biết và trở thành thân quen với gia đình của nhạc sĩ Tử Phác.

anh H nhắc đến nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này ông còn vẽ tranh nữa... C có một bức tranh của Tạ Tấn, để hôm nào sẽ chụp hình khoe :p


20280




Image

N O E L
n ă m .n à o

____________________________________________________________________________
n g u y ễ n k h o a h ộ i



Có người sẽ hỏi là Noel năm nào chúng mình có nhau hả? Không phải đâu. Noel năm đó là một Noel đặc biệt có lẽ tôi sẽ nhớ suốt đời. Nhưng mà khoan cái đã, để tôi trích lại một đoạn tôi kể đã khá lâu...


Mặt trời lờ mờ hiện ra ở chân trời, anh đã thay ca cho Cường ngủ lúc 4 giờ sáng. Xăng chỉ còn 1 can chót, cứ theo đà này thì tới tối là hết xăng. Nhìn bản đồ, anh dự tính may ra thì chỉ tới khu Hòn Thổ Chu và từ đó ra tới hải phận quốc tế cũng không còn bao xa. Trong đầu anh chỉ còn một hy vọng duy nhất là ra đến hải phận quốc tế rồi cầu mong được tàu bè quốc tế qua lại vớt như lời đồn mà ở nhà anh đã nghe qua. Anh cũng biết với chiếc ghe nhỏ này, chỉ cần một cơn dông nhiệt đới cũng đủ chìm.

Tám giờ sáng - trời đã chuyển sang màu xám ngắt và đã có gió hiu hiu. Vậy là Đại uý nói đúng, cứ theo đà này thì đến chiều là bão tới. Anh đang ngồi lái vừa nhìn trời nhìn nước thì máy tắt đột ngột. Lần này máy không tắt với những dấu hiệu như lần trước mà anh nghe như có cái gì gãy bể trong máy, cả bọn nhốn nháo hỏi han rồi ngồi coi Cường ra sức giựt thử - máy cứng không quay nổi cả lấy một vòng cho dù Cường đã cố hết sức. Anh nói:
- Lớn chuyện rồi Cường ơi, kiểu này anh nghi là gãy dên hay bể piston gì đây, đưa anh cái thùng đồ nghề.
Hì hục tháo một hồi thì mới lần vô tới trong cạc te, nhìn cái cây dên gãy đầu, anh thở dài
- Gãy dên. Phụ anh cho nó xuống biển đi Cường.
- Quăng xuống biển hả thầy? Không làm gì được sao?
- Gãy dên thì hết cách, tệ nữa là cái phần gãy này nó chọt lủng lốc luôn. Quăng đi cho nó nhẹ ghe. Mẹ nó, ba cái BS 9 này dỏm thiệt.
Thằng bồ con Thuỷ hỏi:
- Vậy bây giờ mình đi hay về?
- Không đi mà cũng không về, thả trôi tới đâu thì tới.
- Vậy là chết đói hết thầy ơi, nước chỉ còn có nửa cái thùng nhỏ này, còn mấy trái dừa khô thôi. Mấy lon sữa thì tụi nó mút hết từ hôm qua.
_ Tao chỉ sợ chưa kịp chết đói đã chết chìm.
Anh lấy cái lon nhỏ rót ra 1 chút nước, uống xong rồi nói:
_ Bây giờ trên ghe này chỉ còn tụi mình với nhau thôi, sống là sống hết, chết là chết hết. Tao nói gì phải nghe, từ nay nước uống phải tiết kiệm tối đa, ai muốn uống phải hỏi xin phép. Còn mấy trái dừa này cũng vậy, mỗi ngày chỉ ăn hai trái thôi. Bây giờ lấy mấy cây tre với mấy tấm bạt dưới sàn lên làm buồm thử coi. Chỉ còn một cách là cho gió đưa ra hải phận quốc tế rồi chờ tàu vớt thôi, chớ gió này làm sao đi ngược vô bờ được.

Cả bọn lục đục dựng lên hai cây tre bắt chéo, anh lấy sợi dây nhỏ cột chịu đỉnh buồm vào lái rồi lấy một tấm bạt căng thử làm buồm. Vừa căng thử, chiếc ghe nhỏ đã nghiêng hẳn qua một bên làm mấy đứa con gái la hoảng. Thì ra chiếc ghe này không thuộc loại ghe chạy buồm, la ký nhỏ xíu mà lườn lại cạn, có gió bị nghiêng là phải.

Lần này anh thử đưa cột buồm tới ngay mũi ghe và làm thấp hơn lần trước, tấm bạt được thu nhỏ lại chỉ bằng chiếc chiếu. Kỳ này thấy ngon hơn lần trưóc nhiều vì nhờ sức gió thổi vào buồm đưa cái mũi đi trưóc chứ ghe không còn quay ngang.
Nhìn lại, anh thấy cả bọn ngồi nhìn mà không có ai nằm, thì ra nhờ mấy cây tre với mấy tấm bạt mà giúp cho khỏi ướt lưng hai bữa nay, bây giờ hễ có chút nước nào là phải tát ngay, không tát ướt ráng chịu.

Bây giờ gió đã thổi mát mặt, sóng lăn tăn hồi sáng nay đã thấy hơi bạc đầu và cao dần. Hai ngày qua nghe tiếng máy nổ điếc tai, nay đi buồm êm ru, tuy là chỉ nhanh bằng người ta đi dạo. Anh lại thấy một tia hy vọng loé lên trong lòng.
Gió từ từ càng lúc càng thổi mạnh hơn. Sóng cao nhưng thưa, đưa chiếc ghe lên thật cao rồi lại xuống thật thấp. Giống như một con chim bé nhỏ giữa cơn gió lớn, vẫn có thể len lỏi và vươn lên an toàn trong cơn gió dữ.

Anh chợt thấy một thất bại trong cách giương buồm kiểu này, vì cột buồm ở ngay mũi ghe, nên mũi ghe đi trước và cái lái thấp lè tè đi sau. Lúc này ghe đang đi xuôi gió, xuôi sóng nên các lượn sóng lớn như cái nhà, thỉnh thoảng chụp vào lái, nuớc tràn vào làm cho cả bọn xanh mặt, xanh mũi. Nhìn những lượn sóng hồi lâu, anh quyết định.
- Ê, tụi bây. Kiểu này nó chụp vài lượn nữa là chìm, vô bụng cá hết ráo. Bây giờ phải phụ nhau hạ bạt xuống rồi cho ra sau lái. như vậy mới an toàn.
Mấy thằng kia ngớ mặt ra nhìn rồi hỏi:
- Đưa buồm ra sau lái là ghe mình chạy ngược hả thầy ?
Anh nói:
- Ừ, làm vậy thì cái lái thấp, sẽ đi trước, cái mũi ghe cao quay về phía sau, nhờ vậy, sóng từ sau bổ tới sẽ không chụp mình được.

Cả bọn như hiểu ra và cùng anh hạ tấm bạt xuống, đưa ra sau lái rồi dựng lên. Một cơn sóng cao chụp tới, ghe nghiêng hẳn, bọn con gái hú hét, khóc ré. Ghe lại quay ngang, nước tràn vào một mớ , lại tát ra. Và cuối cùng, anh cũng đã dựng được cái cột nhỏ lên sau lái và căn lại tấm bạt đàng hoàng. Chiếc ghe từ lúc đó lướt đi trên mặt biển hung tợn, xanh và đen ngòm với cái lái đi trước, cái mũi đi sau theo một kiểu không giống ai cả, nhưng an toàn không ngờ.



Năm đó khi tôi lên ghe ra đi đã là tháng 12 và cũng đã gần Giáng Sinh. Sau 10 ngày nương theo cơn gió bấc, chiếc ghe bé xíu của bọn tôi tấp vào Pattani miền nam Thái Lan và chiều theo nguyện vọng của chúng tôi, chính quyền địa phương đã cho phép bọn tôi được tìm cách đi Mã Lai theo ý muốn.

Từ Pattani lếch thếch về Narathiwat và thành phố cực nam của Thái Lan là Tak Bai mất hơn tuần, bọn tôi được cho vô một cái chùa tạm trú để chờ cơ hội vượt biên giới Thái Mã để đến Tumpat, thành phố cực bắc của Mã Lai.

Tuy chẳng có yêu cầu nhưng bọn tôi được đưa về ở cái chái bên hông cái chùa Phật Giáo (ông cảnh sát trưởng sau này có giải thích là tuy vùng này Hồi Giáo chiếm đa số, nhưng ông nghĩ người Việt theo Phật giáo nên ông quyết định gởi bọn tôi lại đây cho thích hợp, tốt vậy đó chứ)

Tiếp theo đó là những ngày nhàn rỗi chúng tôi được nghỉ ngơi và ăn uống cho lại sức để chuẩn bị vượt biên sang Mã Lai.(nhịn 10 ngày trên biển đứa nào cũng đói như chó sói).

Từ mái chái hông chùa, ta có thể nhìn thấy ruộng vườn, đồng lúa xanh xa xa với sóng lúa dạt dào, ta có thể nghe chim hót , nhìn hoa dừa rụng bay theo gió và ngắm cái trạm dừng chân cho người đi bộ có cái lu chứa nước. Và nếu lơ đãng tí, ta có thể lầm tưởng đây là quê nhà năm xưa, nơi ngày xưa thuờng bẫy chim, câu cá , chơi đùa với lũ bạn nhà quê ở Phú Hữu, Phú Vinh với tấm lòng của đứa con nít chứ không đang phải lo toan định cư, tự do hay chế độ...

... được mấy ngày thì Giáng Sinh đã gần kề, lòng người xa nhà đang lang thang phương xa cũng bồi hồi, khi mà chữ khúc ruột ngàn dặm chưa ra đời, ngày mà trốn ra khỏi nước còn là tội phản quốc và bị tù, khi đám người vượt biên còn bị coi như chất nằm bên trong khúc ruột thì cảm giác xa quê hương không hẹn ngày quay lại nó ám ảnh người ta ghê lắm, đặc biệt là trong một dịp lễ lớn, một ngày gia đình sum họp ở quê nhà thì ta lại vắng bóng, lại đang lang thang ở phương trời vô định thì cho dù sắt đá cũng cảm thấy tủi thân và lòng dạ mềm ra như bún chứ chẳng phải là chuyện đùa.

Chiều ngày 24, con bé Trang bỗng nghẹn ngào hỏi: Chiều Giáng Sinh rồi, giờ này không biết má em làm gì ở nhà nữa? Thằng kia nói : Chắc là đi lễ cầu nguyện cho Trang đó... vậy là hai đứa tu lên khóc... tôi cũng ngậm ngùi và mọi người ngồi im lặng nhìn vẩn vơ chẳng biết nói gì, cũng chẳng biết an ủi chúng nó làm sao (vì bản thân mình cũng đang muốn khóc) thì thấy ông cảnh sát trưởng đến. Ông nói tối nay Giáng Sinh tôi sẽ thu xếp cho các bạn vượt sông sang Mã Lai như dự định.

Kịch bản vụng về được dàn dựng ngay lập tức. Chúng tôi phải vứt bỏ mọi dấu vết dính líu và tố cáo rằng chúng tôi đã ghé Thái Lan. Chúng tôi sẽ khai là ghe tấp vào cửa sông và bị sóng đánh chìm, rằng đi thẳng từ Việt Nam tới vân vân và vân vân. Hai chiếc xe tải phủ mui bít bùng chở bọn tôi ra bờ sông ngồi chờ. 11 giờ tối ba chiếc ghe đuôi tôm ghé vào cho chúng tôi leo lên. Bắt tay ông cảnh sát trưởng thật chặt tôi nói lời cám ơn cho tôi và cả đoàn. Ông móc túi tặng tôi gói Lucky Strike mà tôi vẫn còn giữ đến hôm nay.

... đặt chân xuống bờ cát phía Mã Lai hình như là 12 giờ, là lúc Chúa sinh ra đời một đêm Noel năm nào, một Noel đáng nhớ trong đời mà hôm nay tôi viết lại để nhớ và cảm tạ những người bạn Thái tốt bụng, nhớ những ngày lênh đênh trên con sóng cao ngất giữa Vịnh Thái Lan...



Image


20873



B À N .b Ố n

____________________________________________________________________________
n g u y ễ n k h o a h ộ i



Ngày đầu năm ngồi chơi nhớ lại một quãng đời. Một sự thay đổi lớn lao mình đã trải qua và có ghi lại cũng đã khá lâu.
Hôm nay đem ra hiệu đính và đăng lên đây với hình ngày đó và bây giờ xem thử sau bao nhiêu năm nước chảy dưới cầu, mình đã thành con người như nào.

* Ghi chú:
Ở các trại tỵ nạn bên Mã Lai, hồ sơ xin định cư tại Mỹ thường được chuẩn bị bởi bàn một, hai (ba?) và công việc này do nhóm JVA (Joint Voluntary Agency) đảm nhiệm. Họ giúp cho đương sự chuẩn bị các hồ sơ cần thiết, từ Lệnh Tha, Khai Sinh, Sự Vụ Lệnh cho tới Bản tướng mạo quân vụ v.v...sau khi các thứ xong xuôi, đương sự sẽ được phỏng vấn bởi một giới chức INS ( Immigration and Naturalization Service) Hoa Kỳ, ngày đó, bàn bốn trực thuộc bộ tư pháp.
Đây là giây phút quan trọng nhất trong "đời định cư" đối với nhiều người nên không khí cuộc phỏng vấn này hết sức căng thẳng và buồn vui lẫn lộn. Đại khái cũng như sỹ tử ngày xưa đi thi và khi đi xem bảng. Có khi còn hơn vậy nữa, vì thi rớt, ta thi lại. Bị bàn bốn xù, rất khó có cơ hội thứ hai trong đời. hic! Vậy mà tui phải làm cho bàn bốn, khổ thiệt.




Từ Bidong, đi chiếc Sumatangkat về Terengganu rồi lên xe bus đi Sungei Besi, tới nơi đã là 4 giờ sáng, tôi vừa mới thiu thiu ngủ là nghe loa phóng thanh réo tên, số tàu lên cho cao ủy cần gặp gấp.
Vừa dụi mắt, vừa chửi thề, tôi chạy lên văn phòng thì gặp ngay May, hì, em gái Tàu Mã chanh chua mà tôi ghét thậm tệ.
- Chào, mới qua hả.
- Chào, tui mới tới, có chuyện chi hong ?
- Tao nghe nói mày làm cho Addington bên giới chức quân sự hả.
- Ai nói? Tui mới tới được có ba tiếng đồng hồ, chưa ngủ nghê gì hết trọi. Hôm đó, chả qua Bidong, tui có làm cho chả mấy ngày thôi à.
- Vậy thì hôm nay mày làm cho "bàn bốn" luôn hén?
- Má ơi, tui mới tới, cho tui vài ngày đi mà.
- Mày dài dòng quá, có hay không ? Nói đi.
-...Ờ, ờ... ừ...(hừ, cái đồ mắc dịch).
Bước ra khỏi văn phòng em gái phù thủy, tôi hỏi một thằng có bản mặt quen quen
- Bàn bốn ở đây không có ai làm sao em?
- Có mà thiếu anh à, ông Ring thì có anh Thanh, bà Fong thì hôm qua, chê bác T. nên bỏ về mất. Có anh chắc là bả chịu rồi. Nghe nói bả dữ dằn lắm, mới vô làm 1 tuần mà xù tùm lum. Ai lên bàn gặp bả là coi như xui.

Tôi bước về mà vừa mệt, vừa lo. Cái bàn bốn (INS) của Mỹ nó căng thẳng, đau khổ lắm lận. Ngày làm bên Bidong cho Addington, tôi đã biết chút ít rồi. Nay lại nghe bà Mary Fong này là hung thần, chắc chắn những ngày sắp tới sẽ là những ngày căng thẳng, đau lòng. Biết vậy, hồi đó làm cho nhà thương Sickbay vui hơn nhiều. Vậy là ngay sáng hôm đó, ăn mì gói xong tôi lại phải quay lại hội trường để chờ giới chức bàn bốn.
Đúng 8 giờ sáng, từ ngoài cổng, hai người nhanh nhẹn bước vào. Một người đàn ông Mỹ to con, mắt xanh lè mà tôi đoán là ông Ring, bên cạnh là một bà già người châu Á, tóc bạc cắt ngắn và nhỏ con mà tôi đoán là bà Mary Fong. Cả hai bước ngay vào phòng của mình.
May kéo tay tôi tới phòng bà Fong.
Trời, em May này ngày thường láo lếu như vậy mà hôm nay lịch sự gõ cửa nhè nhẹ rồi còn đứng chờ nữa.
Từ bên trong, có giọng nói:
- Vô đi, cứ vô.
- Dà, khỏe không bà Fong? Hôm nay, em có thằng (anh) này tới giúp cho bà nè, ảnh đã làm cho Addington rồi và cũng đã là cánh tay phải của bà Maureen bên trường Trung Học (bà Maureen thuận tay trái) đó, hy vọng bà sẽ hài lòng.
Bà Mary Fong vừa quan sát tôi vừa thò tay ra bắt:
- Chào em (cháu?) khỏe ha? Đã sắp đi định cư đâu chưa ?
- Dạ có, cháu đã được Canada nhận và đang chờ ngày đi.
- Ừ, luật là làm thông dịch cho INS thì phải đã được nước nào đó nhận, còn nếu đang chờ thì không được làm.
- Dà, cháu cũng có nghe nói về bà,... cứ nghĩ bà là người da trắng chớ.
Bà Fong cười ha ha vui vẻ rồi nói:
- Tui họ Fong mà, gốc Tàu, nhưng tổ tiên tui qua Honolulu lâu lắm rồi, hổng biết nói ngộ nị gì ráo. Em học tiếng Anh ở đâu dzậy, nói nghe ngon quá ta.
- Dạ, cháu học ở Việt Nam thôi à, chưa bao giờ ra nước ngoài hết.
- Ờ, nè, làm với tui thì làm ơn nhớ nhe, nghe gì thì dịch đó, đừng có dịch dư hay là mớm cho ai điều gì, tui bực mình thì lại có hại hơn là có lợi.
Cám ơn May, tụi tui sẽ sẵn sàng trong 5 phút nữa.

Nàng May chào xong, bước ra là tôi bắt run, run vì cái không khí căng thẳng thì ít nhưng run vì lạnh có lẽ nhiều hơn. Cả đời, có bao giờ tôi biết cái máy lạnh quỷ quái này hở trời ? Mã lai nằm sát xích đạo nóng như cái lò, khi nào cũng 35, 40 độ, nay tự nhiên rớt xuống 20, tôi lại ốm đói nên chưa chi đã cảm thấy khổ, kiểu này chắc ngày mai phải thủ áo len theo.
Lúc đó, không khí bên ngoài bàn bốn ra sao, tôi nào có biết, vì gần ba tháng liền tôi cứ phải ngồi bên trong đó, cái cảnh mừng vui, đau khổ bên ngoài, nay tôi phải nhờ ngòi bút của ông Đông Nghi, trích từ truyện "Trong trái tim lặng lẽ".

*

...Một tuần sau tôi được gọi lên bàn bốn. Buổi sáng hội trường B đông nghẹt người. Những người sắp sửa lên bàn ngồi bên trong. Những người thân, những người hiếu kỳ đứng vây phía ngoài. Không khí nôn nao, bức rức.
Tiếng người nói râm ran. Những gương mặt lo lắng. Những ánh mắt bồn chồn. Một người đàn ông trung niên tóc chớm hoa râm, khoanh tay trước ngực, đi đi lại lại, nụ cười nửa miệng trên môi ra vẻ bình thản bất cần nhưng thực sự để che dấu nỗi âu lo sâu kín.
Một gia đình ngồi trước mặt tôi. Ba đứa con nhỏ. Người vợ khoảng ba mươi, ngượng nghịu trong bộ âu phục mới ủi. Người chồng đen đúa, vẻ nông dân còn rõ rệt trong cử chỉ nét nhìn. Cả hai cúi đầu thì thầm bàn tán. Bên trong góc, một thiếu nữ ngồi lặng lẽ. Tập hồ sơ ôm chặt trước ngực. Đôi môi mím. Hai bàn tay bức rức không yên.
Tôi cũng đang cố trấn tĩnh. Tự chế giễu sự căng thẳng trong lòng. 65 tuổi. Đã một dạo muốn làm thiền giả mà bây giờ nhấp nhổm mong vào hội chợ phù hoa. Bốn trường hợp đầu tiên không ai được nhận. Hai đứa cô nhi khóc lóc ầm ĩ. Gia đình anh nông dân lủi thủi bước ra. Người vợ sụt sùi. Người chồng lơ láo. Mấy đức bé lếch thếch đi theo. Mọi người xúm xít hỏi han. Những tiếng thở dài. Những lời an ủi. Thôi đừng buồn. Mỹ xù thì chờ đi nước khác. Canada sắp sửa vào nhận nhân đạo đó. Rán học Anh văn đi. Trước sau gì cũng được nhận thôi.
Người con gái ngồi trong góc đứng dậy. Cô đã được gọi tên vào. Tập hồ sơ vẫn ôm trước ngực. Bước chân lóng cóng. Đôi mắt mở to thất thần. Tôi nghĩ có lẽ cô không thấy gì khác ngoài cánh cửa trước mặt. Người đàn ông ngồi bên cạnh tôi thì thầm:
- Cuối mùa rồi. Tất cả đều trở nên khó khăn. Cái đáng sợ nhất là bị trả về Việt Nam.
Tôi gật đầu :
- Mười năm trước các nước mở rộng vòng tay đón chúng ta. Vấn đề định cư thật dễ dàng. Bây giờ thời thế thay đổi....
Người đàn ông chua chát :
- Màn đã hạ. Thành ra bây giờ họ muốn dán cho chúng ta cái nhãn tị nạn chính trị hay kinh tế gì cũng được. Chỉ cốt để họ thu xếp với nhau. Bác nghĩ xem, nếu nghèo đói thì làm gì chúng ta có năm ba cây vàng để vượt biên.

...

Mọi người đột nhiên ồn ào. Có tiếng kêu hốt hoảng:
- Nhanh lên! Khiêng cô ấy sang Sick Bay.
- Tiếp một tay bà con. Bị xù, xỉu rồi.
Người con gái được khiêng ra khỏi phòng. Gương mặt tái mét, đôi mắt nhắm, hai dòng nước mắt ràn rụa thê lương. Không khí trầm hẳn xuống. Đâu đó có tiếng thở dài, bức rức... Một nhân viên hội trường bước ra gọi tên tôi. Tôi bật dậy. Người đàn ông bên cạnh nói nhỏ:
- Chúc bác may mắn.

*

Anh bạn trẻ reo lên đắc thắng khi thấy tôi hớn hở bước ra khỏi phòng:
- Thắng rồi, phải không bố? Con biết ngay mà. Mỹ làm sao dám xù bố.
Tôi trợn mắt nhìn anh ta, nhưng miệng nở nụ cười nhẹ nhõm:
- Nhận rồi. Nhưng đừng làm ồn thế anh bạn.
- Già Thuận, chú Lộc và mấy anh em khác đang chờ bố ở nhà. Lên bàn năm luôn nghe bố!
Tôi nắm tay anh ta kéo ra khỏi hội trường:
- Ừ. Lên bàn năm luôn. Nhưng để tôi sang lãnh thư đã. Nếu không, hết giờ phải lãnh thư trễ anh bạn ạ.
Gần 12 giờ. TMS đã thưa người. Tôi đưa thẻ tị nạn vào. Cô gái quen mặt bên trong mỉm cười trao lá thư cho tôi. Thư Bidong. Thất vọng. Cứ tưởng thư của Quyên và Vũ. Thôi về nhà hẳng hay. Tôi nhét lá thư vào túi, bước vội vã theo anh bạn trẻ hân hoan đi trước.
Buổi trưa nắng gay gắt. Mọi bữa nắng như thế này tôi đã rút vào nhà. Tuổi già và 8 năm cải tạo làm tôi suy yếu, không còn sức chịu đựng nắng mưa. Nhưng hôm nay tôi thấy lòng phấn khởi. Nắng như ấm lại. Trời như xanh hơn.
(trongtráitimlặnglẽ)

*

Còn tôi, người chứng kiến và có tham dự chút ít vào cái căng thẳng, nỗi vui buồn, hân hoan, tuyệt vọng đó của người Việt tị nạn thì giờ đây đang run vì lạnh và tâm hồn chưa đủ chai sạn trước nỗi buồn, thất vọng của con người.
Ngày nay, nếu ta hỏi ai đó, là tại sao bạn rời Việt Nam, thì ôi thôi, chắc chắn là ta sẽ nghe được một loạt những chữ như: bất công, đàn áp, vô thần, khát máu, tự do, nhân quyền các thứ, nhưng nếu ta đem những chữ đó vào nói với giới chức INS để xin được định cư tại Mỹ (theo diện tị nạn) thì chắc chắn là không ăn thua.
Bà Fong sẽ nhăn mặt và hỏi:
_Thưa ông, xin ông nói cụ thể cho tôi biết ông đã bị phân biệt đối xử như thế nào? Cái mà những người hàng xóm của ông không bị mà ông lại bị. Còn nếu ông nói chung chung như thế, chắc là tôi phải nhận tất cả mọi người ở đây vào nước Mỹ ngay cho gọn.
_Dà, ... tụi nó nhốt tui vô tù.
_Lý do gì vậy ông, bao lâu?
_À,...năm đó, tại tui tổ chức vượt biên nên nó đánh tui ghê lắm, nhốt riêng mấy tháng rồi ở tù thêm 2 năm nữa.
_Vậy cái lần đó, lý do gì mà ông tổ chức vượt biên ?
_Nói sao giờ hả chú, giúp tui đi (tiếng Việt)
_Em cũng không biết anh à (cũng tiếng Việt)
_Sao không dịch ha em? Bày người ta hả? (Bà già hỏi thằng... mắc dịch)
_..........dạ vì tui đi tìm tự do.(người đàn ông nói).
Và cứ loanh quanh như mèo bắt chuột, cuối cùng thì người đàn ông nọ cũng đã không đưa ra được cái lý do nào chính đáng để "thuyết phục" bàn bốn cả.
Bà Fong mau mắn và lạnh lùng nói như máy:
_Thưa ông, rất tiếc là ông đã không đủ điều kiện để nhập cư vào Hoa Kỳ theo diện tị nạn, tuy nhiên ông có thể làm đơn xin tái cứu xét nếu ông thấy rằng trong cuộc phỏng vấn này, ông chưa nói và chưa đưa hết được các bằng chứng ông có. Ngoài ra, ông nên biết là ông cũng có thể nhập cư vào Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh blah blah...
Vừa nói tay bà ký rèn rẹt lên mấy tờ giấy, thằng tôi ngồi bên thò tay cầm con dấu có chữ "DENIED" và chữ "MARY FONG" đóng cồm cộp lên mấy tờ giấy kia.
_Giấy xù hả chú, vậy là tui bị xù hả?
Người đàn ông ngơ ngẩn hỏi như không thể tin được rằng, người bị tù tội, bắt bớ như ông lại bị bàn bốn xù lẹ như vậy. Ông thẩn thờ bước ra, thằng nhân viên hội trường thò đầu hỏi:
_Ăn trưa hay làm tiếp vậy anh.
_Hai case nữa.
Cứ thế, "ngày dài" của tôi tiếp tục trong cái buồn chán, đau khổ của bàn bốn.
Nói vậy, không có nghĩa là không có cái vui, nhưng tỷ lệ là 2 nhận, 3 hoặc 4 xù thì cũng là buồn nhiều hơn vui .
Ngày ở Bidong đói thuốc, đói cafe bao nhiêu thì ngày qua Sungei Besi, tôi được mời cafe nhiều bấy nhiêu. Nhưng bụng đâu mà chứa, chiều tối, sau một ly ở canteen, tôi âm thầm về đem tài liệu chuyên dành cho đám ...mắc dịch bọn tôi ra coi lại.
À, anh Giàu, Nguyễn duy Giàu, trưởng ban thông phiên dịch đã soạn ra cuốn này (ê, còn sống không cha nội? đọc được bài này hê lên nghe).
Cũng cám ơn vợ chồng Nguyễn đoàn Bằng nữa, đã lo cơm nước cho "thầy" ba tháng. Giờ này chắc làm giám đốc rồi hả em?

Từ từ sau một thời gian, tôi đã nắm được phần nào cái tiêu chuẩn, guidelines của INS khi họ quyết định nhận một ai vào Mỹ, và cũng từ từ, những người sắp lên bàn bốn cũng biết nơi tôi cư ngụ và từ đó, tự do riêng tư của tôi hoàn toàn mất hẳn và tôi lại có "Gà".
Gà là gì ? bạn hỏi. Ừ, gà là người tới gặp riêng mình, mời mình uống cafe, mua thuốc cho mình hút để mình bày cho những câu nói, những lý do khôn ngoan để bàn bốn nhận vô Mỹ. Ngày mà gà lên bàn bốn gặp mình, gà và thằng nuôi gà cả hai cùng run. Và nếu gà bị xù, tôi cũng đau khổ gần như là bản thân tôi bị xù vậy.
Nói vậy không có nghĩa là tôi xấu xa nhe, không phải là ai cho tôi cafe thuốc lá tôi mới giúp ý. Tôi luôn bỏ thì giờ ngồi giải thích, thực tập hỏi đáp cho bất cứ ai nhờ đến tôi. Nhưng rồi, nhiều đêm, tôi phải trốn ra thư viện, rồi lại phải tìm nơi khác, như là góc sân banh, khi thư viện đã bị lộ.

*

_Vậy, thưa cô, theo giấy tờ này, cha cô chỉ là hạ sỹ phải không?
_Dạ, cháu cũng không rành, ngày ba cháu đi lính, cháu còn nhỏ xíu.
_Thưa cô, ba cô có đi cải tạo hay không?
_Dạ có, hình như ba ngày thì phải.
_Gia đình cô có bị tịch thu tài sản gì không?
_Hình như là không có, nhà cháu không có nhiều đất nên không nghe nói gì về chuyện này.
_Vậy, thưa cô, tại sao cô rời Việt Nam?
_Uhm... um... cháu... cháu...
_Cô không muốn nói hay không có lý do để nói?
_Dạ, kỳ quá... cháu..đi buôn cà phê... bị quản lý thị trường lấy hết rồi hắn... ấy cháu mới chịu cho cháu lấy hàng ra.
_Tôi phải dịch chữ "ấy" là "hiếp" cô có chịu không (thằng mắc dịch hỏi)
_Dạ được anh (nói với mắc dịch)...rồi trong xã ai cũng biết chuyện này nên cháu thấy khó lấy chồng quá, đành đi vượt biên. (nói với bà Fong).
Bà Fong bỗng như ngồi phải cọc, bỏ cặp kiếng lão ra nhìn cô gái trước mặt như nhìn một nạn nhân chất độc da cam. Bà lại đeo kiếng vào, hí hoáy viết lia lịa trên tờ giấy ghi lý do.
Bên cạnh, thằng mắc dịch kia thò tay chụp cái mộc "APPROVED" và đóng cồm cộp, miệng nói:
_Chúc mừng cô, đơn của cô xin định cư tại Hoa Kỳ đã được cứu xét và chấp nhận... blah... blah.
_Vậy là được nhận hả anh, trời...... ôi.........ôi......... ah ha!!!
Cô cười và cười, có lẽ miệng cô còn quá nhỏ để chứa đựng nụ cười kia chăng?

Tối hôm đó, về tới nhà, tôi đã thấy cô đứng chờ tôi từ bao giờ, cô cầm trên tay ba gói thuốc Lucky Strike.
Cô nói:
_Em tới lâu rồi, nghe mấy người ở đây nói là anh hay hút thuốc này nên chạy mua tặng anh. Ôi cha, không ngờ anh bày cho em cái "độc chiêu" này, nó hiệu nghiệm như thần.
Tôi chỉ ngán ngẩm nói:
_Mong là cô đừng bày cho ai, lần sau nếu có ai nói giống như vậy, sẽ có hại chứ không có lợi, vì bà Fong sẽ nghi ngờ.
_Em mời anh ra canteen uống nước với tụi em nhe, hôm nay còn bao nhiêu tiền, em sẽ xài hết.
_Cám ơn cô, tui bận quá, ăn cơm xong, tui sẽ........ đi trốn. Chúc cô nhiều may mắn.
Giờ này, có lẽ cô đã có chồng con đàng hoàng, có lẽ cô phải "đi walk" hàng ngày cho bớt mập, và cô than là "đứng cook" đau đầu gối quá ? Hay là cạo frost lạnh quá?

(Ghi chú: Giới chức INS khi phỏng vấn, họ luôn dùng Sir và Ma'am nên khi đọc, bạn sẽ thấy nhiều "thưa ông, thưa cô, thưa bà v.v...")

Thời gian đầu làm việc với bà Fong, tôi luôn nghĩ bà là một người "thiết diện, vô tư", là hung thần, hay là gì gì nữa... Có lẽ ngày ấy, tôi quen với quan niệm sống của người Việt, chưa giao tiếp với lối suy nghĩ của người Tây Phương chăng?
Nhưng rồi từ từ, thỉnh thoảng, bà ngừng cuộc phỏng vấn của bà vài mươi phút, tâm sự với tôi đôi câu, hỏi thăm tôi vài lời về gia cảnh, kể chuyện về bản thân bà hay chỉ để khoe một cái áo mới mà con bà mua tặng. Và bà sẽ để dành không mặc nó, chờ cho đến ngày về Honolulu thăm nhà, bà sẽ mặc vào cho con bà thấy là bà đã trân trọng món quà đó thế nào.
Thỉnh thoảng, sáng sớm buớc vào phòng, bà chìa cho tôi một món quà nhỏ mà bà mua cho tôi ngoài Kuala Lumpur. Có khi là phong kẹo, gói thuốc hay chỉ là lon cà phê.
Nhưng món quà mà bà thường tặng cho tôi nhất, và tôi cũng thích nhất là câu:
_Mình nghỉ chút đi, ừ, chắc mày (cháu?) thèm thuốc rồi phải không?
Và tôi lại được chạy ra ngoài, hút vài hơi, nhìn trời mây lung tung đâu đó.

Rồi đến một ngày nọ, đã sắp đến giờ nghỉ trưa, case chót trong buổi sáng. Một người đàn ông lên bàn phỏng vấn, lý lịch bình thường, binh nhất, làm ruộng, không cải tạo lâu ngày, cũng không có chi đau khổ. Lý do rời Việt Nam: tìm tương lai. Bà xù cái rẹt và hai người bọn tôi chia tay, đi ăn cơm.
Một giờ chiều, case đầu tiên, một cậu bé 12 tuổi lên bàn.
_Cháu đi với ai hay chỉ có một mình?
_Dạ con đi với chú hàng xóm.
_Ba má cháu gởi cháu cho ông đó hay sao?
_Dạ.
_Vậy cháu ở với ai trong trại?
_Dạ con ở với chú hàng xóm.
_Ô, vậy ổng là người trông nom cho cháu hả.
_Dạ.
_Tại sao cháu rời Việt Nam.
_Ba má con nói là qua Mỹ để có tương lai hơn, chớ ở Việt Nam nghèo hoài à.
Bà Fong thở dài nói:
_Theo cái guidelines mới thì phải nhận cháu thôi.
Tôi hoàn tất thủ tục cho cậu bé xong thì thấy bà vẫn đang bận đọc mảnh giấy nhỏ dán kèm theo hồ sơ của cậu.
Chờ cho cậu bé ra khỏi phòng, bà nhìn tôi hỏi:
_Cháu có nhớ anh chàng bị xù trước khi mình đi ăn trưa không?
_Dạ không... à..có.
_Anh đó là ông hàng xóm của cậu hồi nãy đó.
_Ô, vậy sao?
_Nè, ghi chú của JVA có nói, nhưng vì không có liên hệ ruột thịt nên tách ra thành hai hồ sơ riêng. Hừ, nhưng anh chàng kia... uhm. Cháu ra kêu JVA đưa hồ sơ của ổng vô đây lại dùm.
Cô Linda (một cô làm việc thiện nguyện từ Florida, xấu ma chê quỷ hờn) đem hồ sơ vào cho bà Fong ngâm cứu.
Bà săm soi hồi lâu, lật qua lật lại rồi thở dài :
_Xù là đúng, anh này không có lý do gì để nhận hết. Cậu bé kia qua Mỹ sẽ có người bảo trợ khác. Không sao.
Bà lắc đầu như cố xua đi cái ý nghĩ đã chia uyên rẽ thúy một đôi con người rồi chúng tôi lại tiếp tục.
Bà bỗng như trầm lặng hơn và ít nói hơn cho đến 4 giờ 30. Giờ về.
Cầm trên tay tập hồ sơ của anh binh nhất, bà ra lệnh mà không nhìn tôi
_Cháu ra kêu anh kia lên đây tái phỏng vấn.
Lòng mừng rộn ràng cho anh chàng lạ mặt, tôi chạy ra nói với thằng bên phát thanh và chỉ 5 phút sau, anh binh nhất bị xù đã có mặt, áo chưa kịp cài hết nút. Mặt mày anh đầy nét hoảng hốt lo âu.
Bà Fong hỏi:
_Ông làm ơn nhớ lại là tài sản gia đình ông có bị tịch thu gì hay không ?
_Anh cứ nói đại đi rồi em dịch cho anh, bả muốn nhận anh đó (thằng mắc dịch nói thêm)
_Nói làm sao hả anh, nói là bị tịch thu nhà hả (anh binh nhất hỏi tôi)
Không như lệ thường, bà Fong lại như đang bận rộn tìm cái chi đó trong xách tay của bà mà chẳng thèm rầy la tôi khi tôi nói chuyện riêng với người được phỏng vấn.
_Dạ, nhà tui thì không bị lấy cái gì, nhưng có 5 sào ruộng hương hỏa thờ ông bà bị tịch thu thôi, tui là trưởng nam vậy có tính không ? (Lời thằng mắc dịch phẹt ra chứ ông binh nhất kia có nói vậy bao giờ).
Bà Fong cười hỉ hả.
_Tính chớ, vậy là 5 sào hả, ừ đưa cái giấy xù hồi sáng đây, cháu làm ơn làm lại ba cái giấy tờ nghe.
Bà xé giấy xù rét rét, ký rẹt rẹt xong là dông tuốt, người đàn ông vẫn đứng như trời trồng và tôi, tôi bước ra ngoài và hình như đó là lần đầu tiên, làm xong một ngày với bàn bốn mà tôi thấy vui vẻ, yêu đời. Bên ngoài, không khí cũng thấy ấm áp và trời cũng xanh hơn như ông Đông Nghi đã có lần nhìn thấy như vậy. Làm với bà Fong hơn hai tháng, bà nghỉ phép về Honolulu thăm nhà, tôi được chơi rong mấy ngày vì ngay sau đó, sẽ có ông Addington từ Thái Lan bay qua phỏng vấn các quân nhân đã mất hết giấy tờ chứng minh.
Sáng nay, tôi lại được ra ngồi canteen chơi và khi đang uống cà phê, tôi thấy một người đàn ông Mã lai quen quen mà dường như tôi đã gặp ở đâu rồi, ông cũng đang ngồi bàn kế bên, đang ăn sáng và bỗng nhiên bốn mắt nhìn nhau. Tôi bỗng rùng mình, tôi nhớ ông này là ai rồi.

*

Ngày đó, khi ghe của tôi trôi vào Pattani sau 10 ngày lênh đênh, lần mò từ đó về Narathiwat rồi tới Tak Bai. Tôi được đưa vượt qua con sông biên giới Thái-Mã, tới Tumpat và rồi Marang.

Trong khi chờ Tàu Gà đưa ra Bidong, tôi thường được đi lên Terengganu để dịch cho bệnh nhân từ Bidong qua và đặc biệt là hai người Việt đã trốn trại về Việt Nam, nay lại tới Bidong lần hai.
Vì lý do an ninh, hai người này được ở riêng, được phỏng vấn bởi Task Force Mã Lai và bị tạm coi như là gián điệp (?).
Sau hai lần phỏng vấn hai gã "gián điệp" Việt kia, hôm sau, một chiếc xe ghé vào Marang mà lần này chỉ chở có mình tôi đi Terengganu.

Gã Mã lai phỏng vấn mà tôi quen mặt, hôm nay thân thiện lạ lùng, gã bắt tay, mời thuốc rồi lại còn pha cả cà phê mời tôi uống, một ân huệ mà tôi chưa từng có được trong mấy ngày qua.
Gã xởi lởi:
_Hôm nay, tao có người cấp trên muốn hỏi mày vài câu đó mà.
Tôi thầm nghĩ, hỏi gì ta, mình thì có gì mà hỏi? Hay là nó nghi mình cũng là gián điệp?

Từ đàng sau, một người Mã Lai chừng ngoài 50 tuổi, khỏe mạnh, da ngăm đen, tóc ngắn, mặc thường phục, thân thiện bước tới bắt tay tôi và tự giới thiệu:
_Tao là Mahomed...(quên rồi)... chịu trách nhiệm về an ninh cho thuyền nhân Việt Nam ở đây. Hy vọng là mày có thể giúp bọn tao chút ít với những điều mày biết.
Má, ơi, biết gì mà nói đây ta, mới chân ướt, chân ráo tới đây, số tỵ nạn còn chưa có, mắc gì hỏi tui.
Tôi cũng cố nở nụ cười thân thiện, cọng tác, chứ lỡ nó giận, nó nhốt mình sao ?
Tôi cũng cố nở nụ cười thân thiện, cọng tác, chứ lỡ nó giận, nó nhốt mình sao ?
Vài lời hỏi thăm làm quen xong là hai đứa trải ngay ra một bản đồ Việt Nam to tướng ra trước mặt tôi và Mahomed hỏi:
_Ở bển, mày có biết dân tộc Champa hông?
_Ờ, có biết chớ.
_Họ có thích chính quyền mới không vậy?
_Chắc hông ai thích đâu ah, ai mà thích?
_Vậy mày có bao giờ nghe tới Fulro chưa?
_Có nghe chớ, hình như là nhóm này đang quậy ở trên cao nguyên gì đó mà.
Bỗng nhiên, trong đầu tôi như có sét đánh, tôi đang nói gì đây trời? Tại sao tôi lại đi kể chuyện này cho bọn Mã Lai nghe? Như vậy tôi có phải là Việt Gian? Có nên vì ghét cái chính quyền Cộng sản mà đi qua đây vạch áo cho bọn này coi? Những câu hỏi trong đầu tôi cứ như nhảy múa lung tung, nhưng ngay lúc đó, như có một kẻ nào đó trong tôi ra lệnh.
_Cứ làm thằng khờ, không biết gì hết. Lo cho cái thân tỵ nạn là trên hết.
Sau khi không moi được tin gì từ một thằng như tôi. Mahomed đổi đề tài và hỏi:
_Mày có biết ở Bidong đời sống ra sao không?
_Tui chưa ra Bidong, đâu biết gì đâu.
_Ở ngoài đó, tình hình lung tung lắm, có du đãng, có đĩ điếm, có nhậu nhẹt, đánh lộn rắc rối lắm.
_Thiệt ah, bộ bà con hổng lo đi định cư sao mà lộn xộn vậy?
_Tại nhiều người ở lâu quá nên không còn thiết tha gì, có người trồng rau, nấu rượu lậu, có người mở quán buôn bán rất khá.
_Thiệt? Quán gì?
_Thì quán cà phê, quán bán tạp hóa. Mày có muốn làm chủ một cái quán hông?
_Trời, tui trụi lủi, chưa biết đi nước nào, Bidong mặt mũi ra sao tui còn chưa biết mà.
_Ờ, tao chỉ đề nghị thôi, mày ra đó suy nghĩ rồi cho tao biết.
_ ???.
_Như tao có nói, tao chịu trách nhiệm về an ninh của thuyền nhân Việt. Ngoài đảo Bidong, bọn em út tao nó quậy, rồi du đãng đĩ điếm, rồi nấu rượu lậu, ngay cả mấy cố vấn thiện nguyện nước ngoài cũng có khi có quan hệ tình dục với mấy cô tị nạn nữa. Tùm lum thứ, mà mọi chuyện là do đàn em tao báo cáo về, tao không tin tưởng mấy. Nay tao muốn có một nguồn tin độc lập, mà người tao chọn là mày.
Nếu mày đồng ý, tao sẽ thu xếp cho mày làm chủ một cái quán, mày sẽ báo cho tao những gì mắt thấy, tai nghe về hành vi của bọn Task Force đàn em tao, về du đãng Việt trên đảo, về hành vi của các cao ủy, đủ thứ hết. Mày chịu không?
_Rồi cái tiền lời bán quán ai hưởng ha ông?
_Dĩ nhiên là mày hưởng chứ, nhưng tao cũng nói luôn cho mày biết, công việc của mày sẽ rất nguy hiểm, vì nếu bọn đàn em tao biết mày là ăn ten của tao thì mày cũng chết, bọn du đãng biết thì cũng chết mà cao ủy tị nạn biết thì mày cũng khỏi mong được giới thiệu đi đâu hết.
...Móa ! ghê vậy cha, vậy thằng nào dám làm...
Tôi đánh nước đôi:
_Vậy ông cho tôi suy nghĩ chớ, tui chưa ra đó chưa biết gì hết làm sao trả lời chắc chắn được.
Mahomed cười:
_Được lắm, một tháng sau, nếu có ai tìm mày, nói là có người bạn lớn tuổi hỏi thăm, đó là người của tao. Chúc mày may mắn.
Bắt tay ra về, Mahomed còn cho tôi mấy cuốn tạp chí Nam cầm theo đọc đỡ buồn nữa.
Tôi đứng dậy và bước tới bàn ông ngồi rồi chào:
_Chào ông Mahomed, ông còn nhớ tôi không ?
Ông cười và nói:
_Nhớ mặt thôi nhưng quên tên rồi, mày đã được nhận rồi hả?
_Tôi được Canada cho định cư, ngày đó, người của ông có tới tìm tôi nhưng rất tiếc là tôi...
_Tao biết, một tương lai đang chờ đợi, ít ai chịu liều mà làm chuyện đó lắm. Mày biết không, những kỹ sư, bác sỹ Mã Lai mà muốn tới các nước như Hoa Kỳ, Canada, Úc định cư mà đâu có dễ, tụi mày chỉ thoát ra khỏi Việt Nam là đổi đời rồi (giọng ông như có vẻ ganh tị).
Hà hà, tao nhớ có lần tao ghé Marang, tao nói với một nhóm thuyền nhân mới tới là ở Mã lai này, cũng là nước tự do, có ai muốn định cư ở đây hay không. Cả nhóm ngồi im, không ai lên tiếng, chắc họ chê Mã Lai nghèo.
Tôi cố gỡ gạc:
_Thì cũng không trách được, nếu cho lựa chọn nước nào để định cư sau khi rời Việt Nam, người ta sẽ chọn chứ, không lẽ lại chọn Mã Lai thay vì Mỹ, tôi thấy chuyện đó cũng bình thường.
Chúng tôi ngồi nói chuyện thêm chừng 10 phút nữa thì ông đi, không hiểu, ông đã tìm ra ai làm cái công tác kia cho ông hay không .
Mấy ngày sau, tôi có tin báo là bà Fong sẽ không trở lại nữa, ông Addington sẽ thay thế và bay từ Thái Lan qua để phỏng vấn các quân nhân mất giấy tờ.
Addington hút thuốc như xe lửa nên tôi cũng hút theo, phòng lạnh của bàn bốn khi nào cũng mù mịt khói.
_Anh khai anh làm công việc bảo trì máy bay F5 ở Biên Hòa hả?
_Dạ đúng.
_Anh có biết cái "&%$@*&" là gì không ?
_Oh, biết chớ, cái đó nằm dưới cánh máy bay đó mà, dùng để khi cất cánh, nó....
APPROVED.
_Anh là phi công Caribou ? Vậy anh cho biết khi cất cánh, máy phải quay đủ bao nhiêu RPM ?
_Dạ, tối thiểu là 3500 RPM.
APPROVED.
_Cái trại đó ở Đà Nẵng năm xưa, cái cổng sau có tên gì, anh còn nhớ không ?
_Có chớ, kêu là Dog Gate.
APPROVED.
Thời gian này có lẽ là thời gian dễ thở nhất cho tôi, vì hầu như ai cũng được nhận. Và chỉ mấy ngày sau, tôi có list bay đi Canada.

Sáng sớm, ngồi trên chiếc xe buýt chở tôi ra phi trường, tôi chỉ còn nhìn thấy hội trường thấp thoáng sau hàng cây. Trong đó, có Bàn Bốn của tôi.
Hai ngày sau, máy bay đáp xuống phi trường Vancouver trong một chiều đầu Thu có nhiều nắng vàng.





*quên nữa chứ, ai muốn coi hình phải... đăng ký ;)


20907 top -
Cà phê YoYo Ma
1 ... 3, 4, 5, 6, 7
_______________________________________________
Lệ Đá - thơ - Nguyễn Tư Phương _______________________________________________

Image

trong hơi thở
đá nằm
nghe lạnh quá
hồn phong linh
quạnh quẽ
tiếng rung buồn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Cũng Cùng Là Mẹ - văn - Hoài Yên _______________________________________________

Image

Con người sinh ra ai cũng muốn có cái quyền nói lên tiếng nói của chính mình. Tại sao một đứa bé vừa rời lòng mẹ lại khóc oe oe? Tại sao không cần chỉ hít vào lồng ngực một luồng không khí là buồng phổi tự động nở ra mà phải khóc thét lên một tiếng? Phải chăng tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh ấy cũng như một tiếng nói của riêng nó hầu nhấn mạnh sự có mặt của nó trên cuộc đời này.

xem tiếp...

_______________________________________________
Lời Cầm Sương Tôi - nhạc - Nguyễn Tiến Dũng _______________________________________________

Image

buông tay
ngây ngất dịu dàng
buông hồ cầm bặt âm vang
buông thanh âm
thơ ngát không gian
khép mặt giã từ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Hsinbyume - tranh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image



xem tiếp...