THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image


h i ể m .h ọ a .t ừ .P H Ư Ơ N G .B Ắ C
__________________________________________________________________________


Một nước nhược tiểu ở cận kề một lân bang quá lớn mạnh quả là một mối lo âu trường cửu, nếu không nói là một điều bất hạnh triền miên. Ngay như Trung-Hoa, lúc nào cũng tự xem như trung-tâm Đông-Á, đến khi suy yếu cũng không thoát khỏi nạn Ngũ Hồ. Xa như thời Tống thì bị Mông-cổ, gần như đời Minh thì bị Mãn Thanh, Trung-Hoa cũng thành một nạn nhân của một lân bang cường thịnh so với triều đại đương thời. Cận kề đây, cuộc động binh dọc sông Usuri giữa hàng triệu quân giăng dài biên giới Nga Hoa hồi 1969 cũng là một chứng cớ hiển nhiên mà Trung-Cộng phải đương đầu với một lân bang quá lớn và quá mạnh là Nga-Sô.

Khả năng đồng hóa của nòi Hán là một điều đáng sợ trong lịch sử Đông Á. Những nước xâm chiếm Trung-Quốc lần hồi bị tan biến trong đại dương nhân mãn của nòi Hán. Hốt Tất Liệt xâm chiếm Trung-Hoa, diệt nhà Tống, lên ngôi hoàng đế, đem đất đai Mông-Cổ sát nhập vào nước Tàu. Chỉ có 89 năm, nòi Mông-Cổ bị đồng hóa, phần lớn đất đai Mông-Cổ trở thành lãnh thổ Trung-Hoa. Nhà Thanh từ Mãn-Châu xâm chiếm Trung-Hoa, tiếng thì nòi Hán bị nòi Mãn thống trị 250 năm; nhưng thực sự nòi Mãn cũng bị đồng hóa, đất Mãn-Châu cũng thành lãnh thổ Trung-Hoa.

Khi giàu mạnh thì dân Hán xâm lấn và cai trị các lân bang đã đành; ngay khi suy yếu bị lân bang xâm chiếm và cai trị, dân Hán còn thừa khả năng để đồng hóa cường tộc đang chiếm trị. Chỉ vì đất Trung-Hoa nói chung rộng hơn Tân-Cương, Tây-Tạng, Mãn-Châu, Nội Mông (hiện nay), dù dân Trung-Hoa lúc nào cũng nêu chung năm tộc: Hán, Hồi, Mãn, Mông, Tạng, nhưng thật ra, chỉ có nòi Hán là đông nhứt. Bốn nòi Hồi, Mãn, Mông, Tạng còn giữ được bản sắc dân tộc, nhưng thật tình thưa thớt ngay cả trên lãnh thổ của mình như Nội Mông và Tây-Tạng là hai trường hợp điển hình.

Lớn mạnh như Trung-Hoa mà còn không thoát khỏi nạn cường lân. Khi bị trị, dân Trung-Hoa cũng phải điêu-linh đồ-thán.Vị thế Việt-Nam ở giáp giới phía Nam Hoa-lục, nên luôn luôn bị nạn cường lân áp chế. Lịch sử Việt-Nam dài bao nhiêu thế-kỷ thì sự hăm dọa kéo dài bấy nhiêu thời gian. Dù rằng từ năm 939 đến nay, Việt-Nam thật sự là một quốc-gia có chủ-quyền, có lãnh-thổ biên-giới rõ ràng, nhưng mỗi khi có dịp thì Trung-Hoa lại dùng binh-lực mưu toan xâm chiếm Việt-Nam như Trương Phụ nhà Minh, như Tôn Sĩ Nghị đời Thanh, như Đặng Tiểu Bình mới đây!

Dịp, ở đây, là lúc nội tình Việt-Nam suy yếu, nhân tâm Việt-Nam ly-tán. Thảm sử đã diễn ra và diễn lại! Đầu thế-kỷ 15, Hồ Quý Ly, vì tham quyền bính, cướp ngôi nhà Trần nên trên thì mất chánh-nghĩa, dưới lại thất nhân tâm. Sĩ phu và nhân-dân không phân biệt cuộc tranh-chấp giữa hai họ Trần-Hồ với sự tồn vong của quốc-gia dân-tộc. Chỉ vì muốn hạ cho được Hồ Quý Ly, mà Trần Thiêm Bình thành một đề tài cho Trương Phụ nhân dịp dấy binh chiếm đoạt. Nếu không có Lê Lợi khởi nghĩa từ Lam-Sơn để giải phóng đất nước thì cuộc xâm lăng có thể còn kéo dài hơn 10 năm. Cuối thế-kỷ 18, Nguyễn Huệ ra Bắc-Hà, diệt Trịnh Khải, phù nhà Hậu-Lê. Nhưng việc phù Lê cũng không trọn, nên quần-thần Hậu-Lê đưa Chiêu-Thống sang Tàu cầu-viện. Lê Chiêu-Thống lại thành một đề-tài cho Tôn Sĩ Nghị nhân dịp dấy binh sang chiếm Thăng-Long. Nếu Nguyễn Huệ không thắng Hà-Hồi, Ngọc-Hồi, Đống-Đa, thì cái hoạ Bắc-xâm lại đè lên dân-tộc Việt-Nam?

Nhân nhớ chuyện xưa, và nhìn vào hiện tại tình-thế Việt-Nam, những người nặng lòng ưu-quốc rất đỗi băn-khoăn, lo ngại, bồn chồn. Vì những “yếu-tố tạo dịp” cho cường-lân phương Bắc lại hiện ra: tranh chấp quyền hành, phân-hóa ngay trong đảng vì bè phái tham nhũng; nước thì nghèo, dân thì khốn khổ từ Nam-Quan đến Cà-Mau. Quyền hành tập trung vào một đảng (đang mang danh là đảng cộng-sản Việt-Nam) duy-nhứt cầm quyền đang kềm kẹp và bóc lột nhân dân. Sự bất mãn đối với chế độ tràn lan từ Nam ra Bắc, tràn lan vào cả trong hàng ngũ đảng-viên cộng-sản.

Quân-đội chánh-quy Bắc-Việt, khi vào Nam, mượn tiếng “giải phóng”, đã thực sự xâm lăng miền Nam. Đã đối xử với nhân-dân miền Nam như cừu thù (bắt bớ giam cầm gần 20 năm), đã cai-trị bóc lột miền Nam như thuộc-địa. Trong thì khắc-nghiệt với đồng-bào: kiểm-soát hộ-khẩu, hạn-chế di-chuyển. Ngoài thì hèn yếu, đất đai bị cắt xén không dám phản-kháng: điển-hình là vụ tranh-chấp thềm lục-địa quanh quần-đảo Trường-Sa. Tập thể quân đội một mặt chỉ biết cúc cung phục-vụ phe cầm quyền Hà-Nội, mặt khác cũng tự lượng, bị lâm vào tình-trạng yếu kém, không đủ sức đương đầu với quân-đội Trung-Cộng đông hơn gấp năm lần và đã được Đặng Tiểu Bình trang-bị tân tiến hồi thập niên 1980, kể cả vũ-khí nguyên-tử.

Giữa năm nay, Phong Trào Thống Nhứt Dân Tộc và Xây Dựng Dân Chủ bắt đầu họat động ở miền Nam, dự trù tổ chức Hội Thảo Quốc Tế Phát Triển Việt-Nam tại Sài-Gòn vào ngày 27 tháng 11 năm 1993. Thế nhưng, ngày 9 tháng 11 năm 1993, Trung-Cộng gọi Lê Đức Anh sang Bắc-Kinh. Ngày 10 tháng 11 năm 1993, phe cầm quyền Hà-Nội ra lệnh ngăn cấm cuộc hội thảo. Ngày 11 tháng 11 năm 1993, ra lệnh bắt giam các thành phần lãnh đạo Phong Trào. Đây là một triệu chứng rõ ràng rằng phe cầm quyền Hà-Nội nhận chỉ thị của Trung-Cộng để đàn áp Phong Trào, ngăn chặn cuộc Hội Thảo Phát Triển Việt-Nam. Ngăn chặn cuộc Hội Thảo Phát Triển Việt-Nam, phe cầm quyền Hà-Nội tự mình cô lập với các quốc-gia đang dự định giúp Việt-Nam phát triển, tự mình cô lập với thế giới tự do. Ngăn chặn cuộc Hội Thảo Phát Triển Việt-Nam, sau khi nhận chỉ thị của Bắc-Kinh là đảng Việt Cộng tự đưa mình vào lệ thuộc đảng Trung-Cộng, là đem vận mệnh Việt-Nam lệ thuộc vào quỹ đạo của Hoa-Lục.

Vì tự lượng không phải là đối thủ của Trung-Cộng về nhiều phương-diện, phe cầm quyền Hà-Nội đành cam tâm đi vào quỹ-đạo của cường lân phương Bắc, dù “bài học của Đặng Tiểu Bình” mới xảy ra hồi 1979! Đây chắc chắn không phải là ước vọng của nhân dân Việt-Nam! Nhưng phe cầm quyền Hà-Nội chịu lệ thuộc Trung-Cộng để được lợi gì?

Cái lợi duy nhứt thấy được là phe cầm quyền Hà-Nội nghĩ rằng sẽ dựa vào Bắc-Kinh để kéo dài cơn hấp hối của cộng-sản trên lãnh thổ Việt-Nam, cốt để duy trì những quyền lợi cho một số đảng viên cao cấp già nua, bảo thủ tham cố, để bảo vệ những tài sản chìm nổi mà họ đã vơ vét được sau 18 năm cai trị 70 triệu dân Việt-Nam nghèo khó (1975-1993). Nhưng phe cầm quyền Hà-Nội quên rằng Trung-Cộng không bao giờ dung tha tội “phản trắc” mà Hà-Nội đã phạm, khi Hà-Nội thần phục Nga-Sô mưu toan đối đầu với Trung-Cộng ở Đông Nam Á. Trừng phạt hiển nhiên là vụ Trung-Cộng cưỡng chiếm các đảo ở Trường-Sa.

Một khi kéo được Hà-Nội vào quỹ đạo rồi, Trung-Cộng sẽ thẳng tay bóp siết phe cầm quyền Hà-Nội hiện nay, mà hậu quả sẽ là nhân dân Việt-Nam phải khốn khổ hơn, đất nước Việt-Nam phải gánh chịu nặng nề hơn!

Dựa vào Trung-Cộng, phe cầm quyền Hà-Nội chỉ được “dựa hơi” nhưng không nhờ cậy được gì! Vì Trung-Cộng tự lo còn khốn đốn: một mặt vận động được hưởng quy chế “tối huệ quốc” của Hoa-kỳ, một mặt ngoan cố lập luận rằng nhân quyền là vấn đề nội bộ. Vận động hưởng quy chế “tối huệ quốc” là sự nài xin của một nước yếu kém đối với một nước giàu mạnh hơn. Tuy bên ngoài khăng khăng nhân quyền là vấn đề nội bộ, nhưng liệu Trung-Cộng còn kềm giữ được bao lâu? Hay sẽ bị áp lực rồi phải chịu thả nhóm Thiên An Môn ra làm đối lập. Nghĩa là sớm hay muộn Trung-Cộng sẽ thay đổi vào thời điểm thuận tiện. Và khi Trung-Cộng thay đổi rồi, phe cầm quyền Hà-Nội còn bảo thủ được bao lâu nữa, hay rồi cũng vội vã bắt chước theo Trung-Cộng một cách muộn màng?

Hơn thế nữa, đã lệ thuộc Trung-Cộng rồi, phe cầm quyền Hà Nôi sẽ khó gỡ ra, không tránh khỏi những yêu sách áp bức của một nước đàn anh quá mạnh. Sau quần đảo Trường-Sa sẽ là gì? Cam Ranh chăng? Chỉ cần bị ép buộc mở biên giới thông thương: mỗi ngày hàng vạn người Hoa sẽ tràn vào Việt-Nam! Như thế thì chẳng bao lâu đất nước Việt-Nam sẽ bị đưa vào “con đường đồng hóa”!

Lệ thuộc Trung-Cộng rồi, phe cầm quyền Hà-Nội sẽ mất chủ quyền ngay trên đất nước Việt-Nam, dễ thành con cờ thí cho mộng bành trướng của Bắc-Kinh tại vùng Đông Nam Á. Và khi đó, liệu phe cầm quyền Hà-Nội có còn giữ được những gì họ đang bám víu hiện nay? Và số phận của dân tộc Việt-Nam sẽ ra sao? Rồi vận mệnh đất nước Việt-Nam sẽ đi về đâu?

Singapore là một trường hợp điển hình về người Hoa chiếm đất để lập quốc trên xứ Mã-Lai. Singapore cách Hoa-Lục trọn một khoảng xa Nam Hải! Huống hồ Việt-Nam, giáp giới cận kề, dù có đủ mạnh để tự vệ, vẫn không có khả năng và cơ hội để phát triển. Muốn phát triển, Việt-Nam không thể trông mong vào Trung-Cộng mà phải dựa vào các quốc-gia tân tiến trù phú trong thế giới tự do. Bởi Trung-Cộng tự lo lấy mình không xong, còn phải kêu gọi các quốc-gia Tây Phương đầu tư, thì làm gì có khả năng để giúp Việt-Nam phát triển. Hơn nữa, Trung-Cộng không bao giờ muốn thấy một nước Việt-Nam phú cường, mà chỉ muốn thấy một nước Việt-Nam nhược tiểu, chậm tiến, với những cấp lãnh đạo hèn kém dốt nát, cam phận làm “chư hầu” trong khu vực Đông Nam Á mà Trung-Cộng đang muốn nhuộm hồng và khống chế.

Chỉ có những nước tự do tân tiến mới có khả năng đầu tư vào Việt-Nam, và nhân đó Việt-Nam mới có cơ hội phát triển. Những chánh khách có tên dự cuộc Hội Thảo Phát Triển Việt-Nam là những người phát ngôn của các nước tự do tân tiến đang muốn đầu tư kinh doanh ở Việt-Nam.

Phe cầm quyền Hà-Nội phải hiểu rõ điều này, để rồi chấp nhận rằng: bằng mọi cách, Việt-Nam phải thoát khỏi quỹ đạo của Trung-Cộng, hầu khỏi rơi vào vết cũ “một ngàn năm Bắc-thuộc”.

Phe cầm quyền Hà-Nội phải hiểu rằng bánh xe lịch sử chỉ lăn tới, mà vận hội cộng-sản trên thế giới đã thật sự qua rồi! Rằng ý niệm cộng-sản “độc quyền cai trị” đã chết rụi tại Nga-Sô, thánh địa của cộng-sản. Rằng, dù dưới chế độ cộng-sản, quyền lợi quốc-gia dân tộc vẫn phải được lên trên quyền lợi của đảng và đảng-viên. Rằng quốc-gia Việt-Nam vốn có một vị trí đặc biệt tại vùng Đông Nam Á, phe cầm quyền hiện nay không nên đem Việt-Nam vào thế phải thần phục cường lân phương Bắc. Rằng nhân dân Việt-Nam cần được ấm no, bình yên làm ăn sau khi bị đảng cai trị độc đoán gần 40 năm ở đất Bắc, gần 19 năm ở miền Nam. Rằng đất nước Việt-Nam đang chờ cơ hội để được phát triển, mà cơ hội đó chỉ đến khi có các quốc-gia tân tiến chấp nhận đầu tư vào Việt-Nam, nếu Việt-Nam hội được những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển, mới mong có ngày được nhập vào thị-trường quốc tế.

Một trong những cơ hội đó là cuộc Hội Thảo Quốc Tế Phát Triển Việt-Nam đã bị ngăn cấm không kịp thành hình. Một trong những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế là Việt-Nam phải thật sự có tự do và dân chủ.

Phe cầm quyền Hà-Nội phải hiểu rằng dân tộc Việt-Nam đã nhiều lần bị khốn khổ vì cường lân phương Bắc. Dù cố nhẫn nhịn để được bình yên, dân tộc Việt-Nam không bao giờ chịu thần phục Hán tộc. Nếu chỉ vì muốn duy trì quyền lợi của đảng cộng-sản Việt-Nam mà Hà-Nội đành đưa dất nước vào tròng thống trị của Bắc kinh, thì phe cầm quyền Hà-Nội đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân Việt-Nam, nếu chưa nói là phe cầm quyền Hà-Nội phản bội tổ quốc Việt-Nam.

Phe cầm quyền Hà-Nội phải hiểu rằng quyền lực mà quý vị thao túng lâu nay đã quá nặng cho sức mang của lớp người thiển cận lỗi thời, hủ bại, tham cố. Những người này càng bám víu vào chế độ chuyên chính chỉ làm phương hại cho quốc-gia. Trên nguyên tắc, một tấc đất quốc-gia bị xâm chiếm, thì quân đội phải đổ máu để lấy lại. Vì bị áp lực của Trung-Cộng mà phe cầm quyền Hà-Nội hiện nay không dám đòi, hay quân đội CSVN không đủ sức để đòi lại các đảo Trường-Sa bị Trung-Cộng cưỡng đoạt?

Phe cầm quyền Hà-Nội phải hiểu rằng trong quá khứ có một thời, quý vị từng dựa vào Nga-Sô để khỏi bị Trung-Cộng áp bức. Sau vụ Trường-Sa, Trung-Cộng và Việt Cộng ở vào thế đối nghịch. Thế đối nghịch này không thể vì tình trạng “môi hở răng lạnh” hiện nay, mà Trung-Cộng xóa bỏ hay lãng quên. Nếu chỉ vì muốn duy trì chế độ độc đảng để bảo vệ quyền lợi riêng tư mà cam chịu đầu hàng Trung-Cộng, phe cầm quyền Hà-Nội đang đưa đất nước vào thảm hoạ diệt vong, dưới hình thức mới.

Nếu biết đặt quyền lợi quốc-gia lên trên hết, phe cầm quyền Hà-Nội cần mở cửa Việt-Nam, tạo điều kiện thuận lợi để liên lạc với các quốc-gia tân tiến như Nhựt, Úc-Đại-Lợi, Pháp, Đức, Anh, Giạ-Nã-Đại và Hoa-Kỳ, để có hậu thuẫn của các cường quốc kinh tế hầu chấn hưng nền kinh tế đang lạc hậu của Việt-Nam. Hầu tạo được hậu thuẫn quốc tế để bảo vệ chủ quyền Việt-Nam. Và cũng để cho nhân dân Việt-Nam có cơ hội dự vào cuộc phát triển chung của thế giới tự do, nhân đó may ra nhân dân Việt-Nam có được cơ hội mưu cầu ấm no hơn hiện tại.



L o n g T u y ề n
ngày 08 tháng 12 năm 1993



12653



Image


D Ố C .T H Ẳ M .c ủ a .đ ế .q u ố c .đ ỏ
__________________________________________________________________________


Trong lịch sử nhân loại, không có một đế quốc nào tồn tại. Tất cả đều có một thời gian cực thịnh, rồi lần hồi suy tàn. Đế quốc Hy-Lạp của Alexandre, đế quốc La-Mã của Jules César, đế quốc Pháp của Charlemagne, của Napoléon, đế quốc Hoa-Lục của Tần Thỉ Hoàng, của Thành Cát Tư Hản, đều không thoát khỏi thông lệ đó.

Từ đầu thế kỷ 20, chúng ta chứng kiến sự suy tàn của nhiều đế quốc. Trước hết là đế quốc của Đức ở Tây Âu, của Nhựt ở Đông Á chưa kịp thành hình đà tan vỡ. Đế quốc Anh khôn khéo thì còn được cái hình thức tôn quân của Khối Cộng Đồng Thịnh Vượng Chung (Commonwealth). Đế quốc Pháp tham lam và vụng về hơn nên lần hồi mất hết: Việt-Nam, Algérie, Trung Phi, Mã đảo (Madagascar), v.v...

Đế quốc thường được dựng lên bằng chiến tranh xâm lăng, sau đó được duy trì bằng bạo lực thực dân. Bạo lực chỉ đàn áp nhất thời cái mặt nổi giao động của những quốc-gia bị xâm chiếm. Nhưng bạo lực không bao giờ dập tắt được tinh thần bất khuất của những dân tộc quật cường. Đàn áp mạnh bao nhiêu, thì đối kháng mạnh bấy nhiêu. Khi vừa thành hình, mỗi đế quốc đều chứa sẵn nhiều mầm mống tự hoại. Tùy theo thời gian nhanh hay chậm, khi những mầm mống đối kháng hội nhau đồng thời xung phá thì đế quốc phải sụp đổ.

Có thể nói rằng, đại nạn mà nhân loại phải gánh chịu gần trọn thế kỷ 20 là đế quốc cộng-sản. Gần hai tỷ dân trên thế giới đã và đang còn lâm đại nạn này. Tuy nhiên, tình hình biến chuyển trong năm 1989 cho thấy rằng đế quốc cộng-sản đang tuột xuôi theo cái dốc thẳm suy tàn. Những xáo trộn dồn dập trong vòng sáu tháng cuối năm 1989, chỉ là hậu quả của sức đối kháng tiềm tàng trong những nền tảng bất hoại, âm ỉ tự lâu đời, kiên trì chờ hội đủ cơ duyên thì phát khởi.

A. Gia đình là nền tảng bất hoại thứ nhứt sau 70 năm bị chế độ cộng-sản chà đạp dưới chiêu bài “vô gia đình”.

Cộng-sản quốc tế chủ trương vô gia đình. Con là con của đảng, của nhà nước, của Bác, v.v... Dưới chế độ cộng-sản, thiếu nhi bị vận động, bị trưng tập, bị đảng tách rời khỏi gia đình để được huấn luyện và lợi dụng rất sớm. Các em bị cán bộ xúi giục rình rập láng giềng, họ hàng, cha mẹ để báo cáo. Lớn thêm một chút, các em được xách động vào những công tác tàn bạo hơn: trường hợp điển hình là những toán vệ binh đỏ ở Hoa-Lục dưới thời Mao Trạch Đông. Tuỳ theo lứa tuổi, các em bị phỉnh gạt đi làm những công tác phục vụ đảng. Nhưng sau 70 năm, ở các nước cộng-sản, gia đình vẫn là nền tảng không phá hoại được. Trẻ thơ, thanh thiếu niên chỉ bị lợi dụng trong giai đoạn nào đó, nhưng sớm muộn vẫn trở về với cha mẹ. Dưới chế độ cộng-sản, đơn vị căn bản của xã hội vẫn là gia đình.

Mặc dù chủ trương phá hoại nền tảng gia đình của lao, nông, tức là hai giai cấp tích cực phục vụ chế độ, nhóm lãnh đạo cộng-sản thế giới lại bảo vệ gia đình của họ triệt để. Sử dụng các ưu quyền mà đảng dành cho, họ cung cấp tất cả mọi tiện nghi vật chất cho gia đình họ. Đặc biệt, con cái họ được dành nhiều ưu tiên trong khi học hành, sau lại được ưu tiên xuất ngoại để tu nghiệp, v.v... Trong vụ án Thiên-An-Môn, báo chí Tây Phương có nêu rõ danh tánh con em các cấp lãnh đạo Trung-Cộng đang du học tại nhiều trường danh tiếng ở nhiều quốc-gia tân tiến trên thế giới. Tóm lại, chủ trương vô gia đình của cộng-sản thế giới chỉ là chiêu bài để ru ngủ và khai thác triệt để hai giới lao, nông bị trị. Nhưng rốt cuộc vẫn không mang lại kết quả mà chế độ chuyên chế mong muốn. Ngoài một vài hình thức vận dụng thiếu nhi hay thanh thiếu niên có tánh cách biểu dương hay tạm thời, nền móng gia đình dưới chế độ cộng-sản vẫn tồn tại, vững chãi như xưa; nhứt là tại Hoa-Lục, quyền hành gia trưởng không hề suy suyển, ba đời quyến thuộc sống chung một nhà không phải là chuyện hiếm có. Thậm chí sau này, còn có những phiên tòa can sử những vụ kiện tụng xung đột gia đình vì con cái bạc đãi hay tranh chấp tài sản với cha mẹ, mà báo chí Tây Phương gọi là Khổng Tử kiện Marx, Lenin và Mao Trạch Đông.

B. Tôn giáo là nền tảng bất hoại thứ hai sau hơn 70 năm bị chế độ cộng-sản vô thần thẳng tay đàn áp và cai trị, nhứt là ở Nga-Sô và Trung-Cộng.

Dù bị đàn áp dữ dội trước thập niên 1960, các tôn giáo phải trải qua thời kỳ thử thách cực kỳ cam go, nhưng vẫn trường tồn. Các biện pháp giam cầm tu sĩ ở Liên sô, bắt tăng ni hoàn tục ở Hoa-Lục, v.v... có làm trở ngại sứ mệnh truyền giáo, hay hoằng dương đạo pháp, nhưng không dập tắt được lòng sùng mộ thuần thành của cđại đa số tín đồ các tôn giáo nói chung. Điển hình là việc Trung-Cộng đưa quân vào xâm lăng Tây-Tạng, cưỡng chiếm thủ đô Lạp Tát (Lhassa), khiến Đạt Ma Lạt Ma phải vượt Hi-Mã-Lạp-Sơn bôn đào sang Ấn Độ. Trong cương vị giáo chủ Phật-giáo Tây-Tạng, ngài phải xuất ngoại để chịu pháp nạn. Trong tư thế chủ tể quốc-gia Tây-Tạng, ngài phải lưu vong để tiếp tục tranh đấu đòi tự trị hay độc lập cho quốc-gia Tây-Tạng bị Trung-Cộng xâm lăng. Sau hơn 20 năm, cuộc tranh đấu của tăng lữ Tây-Tạng nói riêng, của dân tộc Tây-Tạng nói chung, lại bộc khởi và đang bị Trung-Cộng đàn áp bằng bạo lực, đang gây nhiều tiếng vang trên thế giới.

Ở lục địa Nam Nga, năm sô viết giáp Pakistan, Ấn Độ, Tân Cương kê khai số tín đồ Hồi-giáo càng ngày càng đông. Bách phân binh sĩ theo Hồi-giáo tăng hơn 40% tổng số, đã làm cho cấp lãnh đạo quân đội Nga-Sô lo ngại. Ở vùng Cận Đông, sau mấy chục năm bị chế độ chuyên chính đàn áp: giam cầm tu sĩ, đóng cửa tu viện, tịch thu tài sản của giáo hội, v.v...; Thiên-chúa-giáo chánh thống lần hồi hưng phục. Tín đồ trở lại giáo đường càng ngày càng đông, trong đó có cả nhiều đảng viên cộng-sản (dù dối trá hay thực tâm). Nhất là sau khi một Tổng-giám-mục giáo hội La-mã ở Ba-Lan được tòa thánh Vatican tấn phong Giáo-hoàng, cộng-sản đã mưu toan hủy diệt Ngài bằng cách mượn tay một sát nhân từ Bảo-Gia-Lợi; cảnh sát, phản gián và tòa án Ý-Đại-Lợi đã công khai hóa vụ án và nêu đích danh thủ phạm. Đây là cơn giẫy chết của dã thú, là đòn tấn công liều lĩnh cuối cùng của một đế quốc suy tàn. Dư luận thế giới thấy rõ đấy là một cuộc mưu sát cuồng bạo của cộng-sản vô thần trong một hành động tuyệt vọng cầu may. Xưa kia, khi còn sống, Stalin đã từng trâng tráo hỏi: “Giáo hoàng có mấy sư đoàn?” Ngày nay, cộng-sản Nga-Sô lại trơ trẻn thay đổi luận điệu: “Tôn giáo không gây trở ngại gì cho chánh sách của đảng”.

C. Tinh thần quốc-gia dân tộc là nền tảng bất hoại thứ ba sau 70 năm bị các sô viết chà đạp dưới chiêu bài “vô tổ quốc” do cộng-sản quốc tế chủ trương.

Ôi! Khi sáng tác bài “Đoàn Quân Đi”, Việt Lang đã tuân lịnh để viết lời hát “Xóa tan biên cương loài người sống thân yêu”. Việt Lang! Bảy mươi năm cuộc đời, suốt một phần ba đầu, trong tuổi thanh niên, anh đã sống hiên ngang, phụng sự chánh nghĩa Quốc-gia; anh đã bước những bước đầu vào cửa Vinh Quang Lịch Sử. Nhưng kế đó, từ si mê vào lầm lỡ, anh bị chụp cho cái mũ đỏ mà anh cam tâm chịu nhận mang để được toàn thân, dù cộng-sản biết thừa con người trí thức của anh không hề dính líu gì đến lao nông, dù cộng-sản không cần tốn công truy cứu cũng biết rõ tam-đại của anh không hề là vô sản. Bị nhuộm đỏ rồi buông xuôi thua cuộc, anh đã tự hủy diệt hai phần ba còn lại của cuộc đời một chiến sĩ tiền phong từ thời kháng Pháp 1939-1945. Bây giờ, anh có hối hận cũng đã muộn hết rồi! Khi sáng tác bài hát trên, anh có thực sự được tự do để ghi nhận hay suy nghĩ như anh đã viết?

Vì sự thật thì chỉ có cường lân luôn muốn xóa biên cương của các nước nhược tiểu, muốn thôn tính để sát nhập vào lãnh thổ hầu bành trướng đế quốc. Mãn-Châu, Nội Mông, Tây-Tạng, Tân Cương là trường hợp điển hình! Sở dĩ Việt-Nam không bị sát nhập, là vì thần dân Tiên Long (trong đó có ông cha của anh và của tôi) đã bảo vệ bằng xương máu mà anh đã xưng tụng qua các bài Hội Nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang, Chi Lăng. Hai đế quốc cộng-sản Nga–Hoa cận kề nhau sao họ không xóa biên cương, mà vẫn có biên cương rõ rệt? Và dọc theo biên cương đó, hai đế quốc anh em vẫn dàn hàng triệu quân cộng-sản thù nghịch đối diện, chỉ đợi có lịnh là sẵn sàng hủy diệt nhau? Còn những quốc-gia nhược tiểu, khi biên cương đã bị cường lân xóa bỏ bằng bạo lực, bằng chiến xa, bằng binh đội, thì dân tộc chiến bại bị bắn giết, bị giam cầm, bị lưu đày. Ở đó, chỉ có hận thù chất ngất đợi chờ có cơ hội là phát khởi để xua đuổi quân xâm lăng. Làm gì có thương yêu giữa quân xâm lăng và dân tộc bị xâm lăng? Thử nhìn miền Nam Việt-Nam từ sau 1975 thì thấy rõ. Khi quân chánh quy Bắc Việt xâm lăng miền Nam, biên cương dọc vĩ tuyến 17 bị xóa bỏ, thì đồng bào miền Nam có được cộng-sản miền Bắc yêu thương? Hay tài sản miền Nam bị cướp đoạt, quân nhân công chức miền Nam bị giam cầm cải tạo, nhân dân miền Nam bị lưu đày đi vùng kinh tế mới?

Những gì đã xảy ra, bao nhiêu người bị tàn sát, sau bức màn sắt đã che khuất Đông Âu, dưới chế độ bạo tàn của Staline? Những gì đã xảy ra, bao nhiêu sanh mạng bị hủy diệt, sau bức màn tre đã che khuất Hoa-Lục, dưới chế độ phi nhân của Mao Trạch Đông? Bao nhiêu thảm trạng triền miên đã xảy ra ở Việt-Nam sau 30 tháng 04 năm 1975! Những điều mà thế giới tự do ghi nhận được, không thể nào phản ảnh trung thực được số người bị thiệt mạng qua các cuộc thanh trừng đẩm máu, các cuộc lưu đày tập thể, các cuộc cướp đoạt trắng trợn của cộng-sản thế giới áp bức dân đen bằng bạo quyền!!

Nhưng dù bị đàn áp, dù bị thiệt hại đến mức gần suy vong, những dân tộc nhược tiểu trong hai đế quốc cộng-sản đã âm thầm chịu đựng, và tiếp tục nuôi dưỡng cuộc đấu tranh từ khi bị cưỡng chiếm cho đến bây giờ. Hung-Gia-Lợi khởi nghĩa (4 tháng 11 1956) Tiệp Khắc vùng lên (1968), rồi Ba-Lan. Gần đây, vụ nổi loạn của Kazakhs ở Alma-Ata (1986), vụ Armenians tranh chấp vùng Nagorno-Karabach, dân Croatians đòi tự trị ở Nam-Tư, dân Moldavians đòi tự trị ở Bảo-Gia-Lợi. Rồi Estonia, Latvia, Lithuania đòi độc lập ở ven Baltic; dân Georgians công bố là bị quân Nga cưỡng chiếm, lại đến dân Ukranians biểu tình đòi chế độ độc tài Moscou trả lại thánh đường cho giáo hội.

Trong đế quốc Nga-Sô, 150 dân tộc thuộc 60 quốc-gia bị chèn ép trong 15 sô viết và 38 cơ chế pháp lý linh tinh là một nồi nước đang sôi bầng bầng.
Ở Hoa-Lục, vụ Tây-Tạng đàn áp chưa yên, thì đức Đạt La Lạt Ma lại được chọn nhận giải Hòa Bình Nobel năm nay (1989) vì cuộc đấu tranh bất bạo động của Ngài. Hai mươi (20) dặm dài của Vạn-Lý-trường-thành dọc biên cương Nội Mông bị phá sập mà chưa được công bố nguyên do. Bốn nòi Hồi, Mông, Tạng, Mãn vốn có quá khứ lịch sử quật cường, đang chất chứa nhiều mầm mống chống đối, chỉ chực nổ bùng trong tương lai ở Tân-Cương, Nội Mông, Mãn-Châu như đã từng xảy ra ở Tây-Tạng.

Tóm lại, dưới hình thức đòi tự do tín ngưỡng, đòi thực thi nhân quyền, tinh thần quốc-gia dân tộc là tiềm năng đấu tranh khiến hai đế quốc cộng-sản lo ngại, vì tự biết khó lòng dập tắt được. Thời kỳ dùng cường quyền và bạo lực để đàn áp các cuộc khởi nghĩa của những dân tộc bất khuất đã lỗi thời, nếu gượng áp dụng sẽ bị dư luận quốc tế lên án gắt gao. Vụ thảm sát Thiên-An-Môn là một lầm lẫn vô phương biện bạch của lớp lãnh đạo già nua, tàn bạo, tham quyền cố vị, mà Đặng Tiểu Bình và Dương Thượng Côn là tiêu biểu và phải chịu trách nhiệm.

D. Trí Thức là nền tảng bất hoại thứ tư đã và đang tiếp tục dấn thân chống lại đế quốc cộng-sản.

Tần Thỉ Hoàng ngày xưa “đốt sách chôn nho” để đàn áp chư hầu đối lập. Một Hàn-nho sống sót (Trương Lương) đã chủ mưu, rồi dụng mưu chước giúp Lưu Bang đánh sập triều Tần. Giống bạo Tần, cộng-sản vốn xem trí thức không bằng những cục phân. Và trí thức đã bị cộng-sản lưu đày, giam cầm, hành hạ. Solzhenitsyn, Sakharov ở Nga; Vaclav Havel ở Tiệp, Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán ở Việt-Nam đã không lùi bước. Trong thảm án Thiên-An-Môn, sinh viên (mầm mống sĩ phu) là đối tượng cho bạo quyền Bắc-Kinh hủy diệt trước mắt truyền thông thế giới. Khi giới trí thức chấp nhận dấn thân tham gia cuộc đấu tranh chống lại cường quyền, là nguy cơ của chế độ cộng-sản đã cận kề. Trong nhiều tư thế khác nhau: trí thức chống-Cộng đang dùng tất cả các bộ môn văn nghệ, văn hóa, dùng tất cả các phương tiện truyền thông để kêu gọi dư luận thế giới, để cảnh tỉnh nhân dân ở quốc nội, hướng dẫn đường lối đấu tranh, chuẩn bị góp sức vào cuộc quật khởi để đánh đổ đế quốc đỏ đang nằm kề vực thẳm.

E. Tư bản là nền tảng bất hoại thứ năm đã và đang đập vỡ chế độ cộng-sản; lần hồi làm ung thối chế độ cộng-sản.

Tư bản thế giới nói chung, các tài phiệt Hoa-Kỳ (như Armand Hammer) nói riêng đã cấy những mầm hủ hoại vào chế độ cộng-sản từ thời Staline còn sống. Chính những nhà tài phiệt này đã nuôi sống-Cộng-sản quốc tế, nhứt là Staline và Nga-Sô. Sau 70 năm, Nga-Sô không lập được thiên đường-Cộng-sản. Tư bản thế giới vẫn thao túng chánh trường Nga-Sô với hậu thuẫn mạnh mẽ của một giai cấp mới: những nhà tư bản đỏ.

Khi chưa nắm được chánh quyền, cộng-sản tự rêu rao rằng cán bộ thanh liêm trong chế độ lành mạnh. Khi áp đặt chế độ chuyên chính vào nước nào, cộng-sản lo thu góp mọi tài nguyên vào các cơ chế quốc doanh dưới chiêu bài “Dân làm chủ, nhà nước quản trị, v.v...” Đảng tập trung mọi quyền hành và phân phối lại cho đảng viên trong guồng máy cai trị. Được nắm những vị trí then chốt quan trọng, các đảng viên cộng-sản vốn là những con người thường, nên vẫn tham lam và thích chiếm hữu. Vì nhược điểm cố hữu này, đảng viên lần hồi sa vào cám dỗ, bị hủ hóa trầm trọng. Rất nhiều đảng viên cộng-sản thế giới đã trở thành những nhà tài phiệt bất chính, những nhà tư bản đỏ, ngoi lên từ vũng lầy nhầy nhụa của tham nhũng, gian thương, buôn lậu, v.v... mà họ đã từng lên án hay mạ lÿ nặng nề trước đây.

G. Nền kinh tế của cộng-sản là kinh tế bị chỉ huy, một giống cây bị trồng ngược chỉ chết lần mòn không tồn tại được, mong gì phát triển mà chờ thấy đơm hoa kết quả.

Thay vì viết Vô-sản-luận, Karl Marx đã viết Tư-bản-luận. Có thể vì không thuộc thành phần tư bản, có thể vì quá chú tâm muốn đạp đổ tư bản, ông không kịp nghiên cứu kỹ càng hoặc ông đã không hiểu rõ khả năng của tư bản. Khả năng của tư bản, nhứt là đồng tiền của tư bản vốn có giá trị và quyền lực tiềm tàng của nó. Đồng tiền của tư bản đã nhiều lần chuộc được hoặc đền bù được những lỗi lầm của những người điều khiển guồng máy chánh quyền; đôi khi nó còn có khả năng tái lập quân bình và chấn hưng kinh tế. Đế quốc cộng-sản không hiểu tư bản, xem tư bản như kẻ thù hoặc khinh thường tư bản; cho rằng tư bản chỉ cầu lợi, dám bán luôn sợi giây thòng lọng cho người treo cổ chính mình.

Điều quan hệ hơn nữa là tư bản biết xem trọng trí thức và biết vận dụng khả năng trí thức vào các lãnh vực nghiên cứu cần thiết cho việc phát triển quốc-gia và chấn hưng kinh tế; trong khi cộng-sản xem tư bản và trí thức là thành phần thù nghịch phải tiêu diệt. cộng-sản vẫn khinh thường trí thức mà chú trọng nhiều vào thành phần lao động. Vì trí thức bị xem rẻ nên khoa học không được trọng dụng ở những lãnh vực khác. cộng-sản quốc tế thường miễn cưỡng lưu dụng những khoa học gia vào “chương trình lên không gian” hay tăng cường vũ khí trang bị các đơn vị xâm lăng, mong bá chiếm hoàn cầu bằng các hình thức chiến tranh.

Trong khi đó, khối Tây Phương đã khuyến khích và nâng đỡ khoa học, dùng khoa học để phát triển kỷ thuật. Những khám phá kỷ thuật đưa đến nhiều sáng chế tân kỳ được triệt để đem áp dụng vào các ngành kinh tế, khiến khối Tây Phương càng ngày càng mở mang, càng tiến bộ đạt nhiều điều kiện hầu trở thành phú cường.

Vì khinh rẻ trí thức, nên cán bộ cộng-sản không theo kịp đà tiến hóa. Người có học hành chuyên môn thì ít, mà thành phần thất học nhờ tuổi đảng leo thang lại nhiều. Thói thường, người dốt mà nắm quyền điều khiển, thì ít chịu dùng thuộc cấp có học thức: vì mặc cảm thua thiệt cũng có, mà vì sợ “bị qua mặt” cũng có. Không có kiến thức chuyên môn, không có khả năng điều hành, cán bộ cộng-sản chỉ dựa vào quyền uy và thế lực của đảng để đặt ra những kế hoạch thiếu thực tế, ấn định chỉ tiêu thật cao. Khi gặp khó khăn thì không đủ khả năng ứng phó, cũng không dám quyền biến theo tình thế vì sợ bị đảng trừng phạt. Cho nên hàng chục kế hoạch ngũ niên nối tiếp nhau thất bại dù đã tiêu thụ những kinh phí khổng lồ, lãng phí hàng vạn nhân công vô ích, vẫn không mang lại kết quả mong muốn. Ví thử có đạt được chỉ tiêu sản xuất về lượng, nhưng phẩm chất hàng hóa lại xấu, nội địa tiêu thụ không xuể, mong gì đem ra cạnh tranh ở thị trường quốc tế. Nền kinh tế bị chỉ huy càng ngày càng lụn bại, thua sút so với khối tự do Tây Phương. cộng-sản biết rõ như vậy nhưng không cách gì cứu chữa được, vì guồng máy điều hành theo lịnh đảng vừa nặng nề trói buộc, vừa chậm chạp lỗi thời.

H. Pérestroika, Glasnot là hai cánh cửa của đập ngăn nước tạm mở, mong giảm áp lực đang đè nặng trên nền kinh tế chỉ huy của Nga-Sô.

Mười năm xét lại của Đặng Tiểu Bình, Triệu Tử Dương cũng nhằm mục đích này. Một khi cửa đã mở, nước bị ngăn đọng lâu năm tuôn tràn thành thác lũ. Cửa Pérestroika ở Nga, cửa xét lại ở Hoa-Lục hé được, nhưng không kiềm chế hay kiểm soát được. Cơn lũ đang làm rạn nứt cái đập cũ kỹ, đánh tung vài mảnh của chế độ cộng-sản. Bức tường ô nhục ngăn đôi Bá-linh (Berlin) đã được phá đi nhiều chỗ để Đông và Tây Đức được thông thương. Hai mươi dặm Vạn-Lý-trường-thành ngăn đôi Mông-Cổ đã sụp đổ là những hình ảnh điển hình. Chánh phủ không-Cộng-sản cầm quyền ở Ba-Lan; đảng xã hội thay thế cộng-sản ở Hung-Gia-Lợi; những biến cố đang dồn dập xảy ra ở Tiệp-Khắc, con bài domino nằm sát Tây-Âu là thành quả của Pérestroika trong đoản kỳ.

Điều mong muốn của Gorbachev khi chủ trương Pérestroika và Glasnost chỉ là dùng hai danh từ này làm phương tiện để tự củng cố quyền hành cá nhân. Và sách lược cố hữu của cộng-sản là mềm nắn rắng buông vì khả năng của Nga-Sô không còn đủ để cưu mang khối Warsaw lâu hơn nữa! Cơn lũ cải cách đang giao động Đông Âu trực tiếp mang đến cho Gorbachev hai điều lợi: một là tạm thời lấp miệng phe bảo thủ còn bám víu trong Hội đồng Tối cao Sô Viết mà Gorbachev đã thanh toán lần hồi; hai là khối Tây Phương đang giăng tay nuôi Gorbachev và Nga trong giai đoạn Pérestroika đang thịnh hành. Hơn nữa, ở Hoa-Lục, Đặng Tiểu Bình còn gượng gạo gây thêm một thảm án Thiên-An-Môn, nhưng chắc đấy là lần sau cùng trước khi đế quốc Hoa-Lục cáo chung.

Gorbachev không dám làm như vậy ở Kazakhstan, ở Arménia, ở Georgia. Thời kỳ đàn áp đối lập bằng võ lực ở đế quốc Nga đã hết hiệu nghiệm, vì ưu thế quân sự của Hồng quân đã hao mòn sau vụ chiếm Afghanistan.

I. Nhân Quyền — lá sinh tử phù tuyệt mạng đã phát tác, làm lung lay hai đế quốc đỏ, vừa là đồng đảng, vừa là cừu địch.

Thỏa ước Helsinki là một văn kiện chỉ được các quốc-gia Tây Phương ký kết, nhìn nhận và tôn trọng. Nhân quyền được tổng thống Jimmy Carter đưa lên làm quốc sách trong nhiệm kỳ 1976-1980. Các chế độ quân phiệt độc tài không tôn trọng nhân quyền; các chế độ cộng-sản chuyên chế không biết đến nhân quyền. Đem nhân quyền mà nói với chế độ đảng trị như đổ nước trên đầu vịt, như khảy đàn vào tai trâu, như nói chuyện lễ nghĩa với hung đồ, như bàn luận nhơn đức với đạo tặc. Suốt nhiệm kỳ 1976-1980, tổng thống Jimmy Carter bị thua liểng xiểng: thỏa ước SALT không được Nga-Sô tôn trọng, trọn sứ quán ở Ba-Tư bị đệ tử cuồng tín của Khomeni bắt làm con tin, rồi A-Phú-Hãn bị Nga-Sô đưa quân xâm lăng trắng trợn mà Hoa-Kỳ thì khoanh tay không can thiệp vì chiến lược cũng có mà vì bất lực cũng có. Tổng thống Jimmy Carter khởi sự đem nhân nghĩa để đối đầu với cộng-sản đang vào cuối thời cực thịnh, nên ông không kịp thấy nhân nghĩa thắng bạo tàn. Nhưng ông đã cấy được lá “sinh-tử-phù Nhân-Quyền” vào chế độ cộng-sản đang mãn đà sắp tuột dốc. Tấu xảo hay tiền định: vào đúng thời điểm này, tức vào nhiệm kỳ của Jimmy Carter, Zbigniew Brzezinski gốc Ba-Lan là cố vấn an ninh của tổng thống Hoa-Kỳ tại Bạch-cung, nghiệp đoàn Solidarity hưng thịnh ở Ba-Lan; tân giáo hoàng được tấn phong là một tổng giám mục cũng xuất thân từ Ba Lan. Nghiệp đoàn Solidarity đấu tranh đòi quyền lợi, đòi cải cách. Khi cửa Pérestroika hé mở, sau Ba-Lan, các nước Đông Âu lần lượt đứng lên đòi thực thi dân chủ, đòi cộng-sản phải tôn trọng nhân quyền. Nhân quyền là chủ đề đấu tranh ôn hòa của nhân dân các nước Đông Âu buộc chế độ cộng-sản phải đổi thay chánh sách. Vì tôn trọng nhân quyền là không kiểm duyệt báo chí, không xâm phạm tự do đi lại, không cấm đoán tín đồ đến giáo đường, không lạm quyền bắt bớ giam cầm công dân vô cớ, v.v... Trên thực tế, cộng-sản không bao giờ biết tôn trọng nhân quyền, không hề cho dân chủ được hưởng tự do. Thảng hoặc dưới một chế độ cộng-sản nào mà dân chúng có được hưởng chút ít tự do, được giữ riêng chút ít tư hữu, thì có nghĩa là chế độ cộng-sản nơi đó đã lui bước tạm thời, hoặc đã biến dạng, vì mất đi bản chất độc tài chuyên chế cố hữu của nó.

Giống như Nga-Sô, Trung-Cộng cũng chỉ muốn cải cách về kinh tế để cầu thịnh vượng, hầu có phương tiện và khả năng duy trì vị trí đại cường. Nhưng không thể chỉ đơn phương cải cách kinh tế được, phải cải cách chánh trị song song thì mới mong có hiệu quả. Ở Hoa-Lục, đảng cộng-sản vẫn cầm quyền, nhưng sau mấy năm Đặng Tiểu Bình chủ trương “mèo trắng mèo đen đều tốt miễn mèo bắt được chuột”, xã hội ở Hoa-Lục đã quay về hình thức trung nông tiểu thương, không còn thuần túy bần cố lao nông như thời trước 1949-1950.

Nhân dịp Pérestroika hé cửa, các thành phần dân chúng bị chế độ Mạc-Tư-Khoa áp bức, các dân tộc bị đế quốc đỏ Nga-Sô thôn tính từ trước đến nay đang lần lượt đứng lên đòi nhân quyền, tức là đòi cải cách chánh trị. Bị bắt buộc phải chấp nhận đối lập, bị đưa vào thế phải nhượng một phần quyền hành pháp cho đối lập, các chế độ cộng-sản phải biến hình để chuyển theo tình thế, mong duy trì được phần nào hay phần ấy. Lá bài domino cuối cùng của khối Warsaw là Tiệp-Khắc mới dây đã chấp nhận đối lập sau mấy đợt biểu tình vĩ đại của dân chúng đòi cải cách, đòi nhân quyền.

K. Dốc thẳm của đế quốc đỏ.

Đế quốc Nga-Sô đang tan rã dù không có một cuộc binh biến nào, cũng không có một cuộc đảo chánh đổ máu nào. Cuộc cách mạng ôn hòa đã tuần tự đập vào khối chuyên chế Nga-Sô khiến cho đế quốc rạn nứt rồi vỡ thành nhiều mảnh.

Estonia, Latvia, Lithuania đã được tự trị rồi độc lập. Ba-Lan đã nhượng quyền cho Solidarity. Đảng cộng-sản Hung-Gia-Lợi cải thành đảng Xã-hội. Đông Đức đã đập bức tường ô nhục ngăn đôi Bá-Linh. Georgia mới công bố rằng trước đây bị Nga-Sô xâm chiếm. Armenia đòi sát nhập khu Nagorno-Karaback. Và Ukraine, sô viết then chốt của đế quốc Nga-Sô đã đòi đảng cộng-sản phải hoàn trả thánh đường cho giáo hội công giáo.

Đế quốc Nga-Sô sẽ thật sự tan rã khi Ukraine đứng lên lại nền đòi độc lập và chủ quyền đã bị cướp đoạt trước đây. Đế quốc Nga-Sô sẽ thật sự tan rả, khi ở phiá nam Tây-Bá-Lợi-Á, năm sô viết Hồi-giáo đòi tự trị và sớm hay muộn năm quốc-gia này cũng sẽ đứng lên. Vụ nổi loạn ở Alma-Ata cách đây hai năm (1987) ở Kazakhstan là dấu hiệu tiên báo sự suy tàn của đế quốc do Nga-hoàng xây thành bằng binh đội và Staline duy trì bằng bạo lực.

Đế quốc Trung-Cộng cũng đang giẫy chết. Vụ án Thiên-An-Môn không tiêu diệt được mầm đấu tranh mà trí thức, công nông với cả đảng viên cộng-sản đều góp phần. Xã hội Trung-Cộng đã biến hình từ hơn 10 năm nay, cơ chế hành pháp và nhân sự trong đảng bắt buộc bị biến hình theo, không tránh được.

Bốn dân tộc bị trị: Mông, Hồi, Tạng, Mãn chắc chắn sẽ lần lượt đứng lên. Họ chỉ bị đồng hóa trong vùng trung tâm Hoa-Lục, còn ngay trên lãnh thổ nguyên quán, họ vẫn còn giữ được sắc thái, phong tục, tập quán, truyền thống, nhứt là tinh thần bất khuất của dân tộc.

Tây-Tạng đã đứng lên. Đức Đạt-La Lạt-Ma tiếp tục tranh đấu ôn hòa cho nền độc lập Tây-Tạng. Giải thưởng hòa bình Nobel sẽ giúp Ngài uy tín để hoàn thành sứ mạng cao cả này.

Trong chiều hướng Pérestroika, Ngoại Mông sẽ được tự trị. Tự trị hay độc lập, Ngoại Mông sẽ lôi kéo Nội Mông ra khỏi đế quốc Trung-Cộng. Hai mươ dặm của Vạn-Lý-trường-thành bị sụp đổ là dấu hiệu bắt đầu cho một quốc-gia Mông-cổ thống nhứt và độc lập. Khi Tây-Tạng và Nội Ngoại Mông làm được, thì Hồi tộc ở Tân cương và Mãn tộc ở Liêu Đông chắc chắn cũng đứng lên. Chúng ta có thể chứng kiến những biến cố này vào một, hai thập niên sắp tới.

Vào đầu thế kỷ 21, hai đế quốc cuối cùng đã gieo thảm hoạ cho nhân loại, hai đế quốc cộng-sản Nga-Sô và Trung-Cộng, sẽ không còn tồn tại.



L o n g T u y ề n
tháng 11 năm 1989



12654



Image


N G U Y Ễ N .N H Ạ C
H o à n g .Đ ế .s á n g.n g h i ệ p .T â y .S ơ n
__________________________________________________________________________


Trong hoàn cảnh lịch sử Việt-Nam vào cuối thế kỷ 18, Nguyễn Nhạc ở Vân Đồn, đứng lên khởi nghĩa, chống lại Trương Phúc Loan tham lam, tàn ác, chuyên quyền dưới mạt triều Tiền Nguyễn. Nguyễn Huệ là em ruột theo giúp. Sau này, khi nhắc đến Tây Sơn, ai cũng nghĩ đến Nguyễn Huệ, vì võ công hiển hách của Ngài đại thắng 20 vạn quân Thanh trong thời hạn 5 ngày. Còn Nguyễn Nhạc là người sáng nghiệp Tây Sơn, thì hầu như bị lãng quên; nghiễm nhiên thành nạn nhân của sử gia, và hậu thế!

Chúng ta thử ngược thời gian, lật vài trang chính sử, (dựa vào quyển Việt-Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim) để tìm một vị trí xứng đáng cho vị anh hùng áo vải Nguyễn Nhạc, nhân thời thế tạo thời thế, từ Biện-lại xuất thân mà dựng nên đế nghiệp, đưa Qui Nhơn và Nguyễn Huệ vào lịch sử. Từ năm 1771, Nguyễn Nhạc lập trại ở Tây Sơn, dựng đế nghiệp tại Qui-Nhơn, dọn đường cho em ông lên ngôi Quang-trung Hoàng đế ở Bàn-Sơn 17 năm về sau này (1788).

Việt-Nam Sử Lược của học giả Trần Trọng Kim chép rằng:

“Lúc bấy giờ ở huyện Phù Ly (nay đổi là Phù Cát) đất Qui Nhơn, có người tên là Nguyễn Nhạc, khởi binh phản đối với chúa Nguyễn.

Nguyên ông tổ bốn đời của Nguyễn Nhạc là họ Hồ, cùng một tổ với Hồ Quí Ly ngày trước, người ở huyện Hưng-Nguyên, đất Nghệ-An, gặp lúc chúa Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở ấp Tây-Sơn, thuộc đất Qui-Nhơn. Đến đời, ông Hồ Phi Phúc, dời nhà sang ở ấp Kiên-Thành, nay là làng Phú-Lạc, huyện Tuy-Viễn, sinh được ba người con: trưởng là Nhạc, thứ là Lữ, thứ ba là Huệ.
Anh em ông Nhạc muốn khởi loạn, mới lấy họ mẹ là Nguyễn, để khởi sự cho dễ thu phục nhân tâm, vì rằng đất ở trong Nam, vẫn là đất của chúa Nguyễn...”

“Nguyễn Nhạc trước làm Biện-lại ở Vân-Đồn... đến năm Tân-Mão (1771) mới lập đồn trại ở đất Tây-Sơn, chiêu nạp quân sĩ. Thế Nguyễn Nhạc mỗi ngày một mạnh, quân nhà chúa đánh không được. Vả lại Nhạc là một người có can đảm và lắm cơ trí, một hôm định vào lấy thành Qui-Nhơn, bèn lập mưu, ngồi vào trong cái cũi, cho người khiêng vào nộp cho Tuần-phủ Nguyễn Khắc Tuyên. Đến nửa đêm, Nhạc phá cũi ra, mở cửa thành cho quân mình vào đánh đuổi quan quân đi, giữ lấy thành Qui-Nhơn làm chỗ căn bản, rồi tiến lên đánh lấy Quảng-Nam. Chẳng bao lâu, từ đất Quảng-Nghĩa vào đến Bình-Thuận đều thuộc Tây-Sơn cả...”

Khi tướng của Trịnh Sâm là Hoàng Ngũ Phúc lấy được Phú-Xuân rồi (trang 104, giòng 7-8), “Nguyễn Nhạc biết Đông-cung thế yếu, và lại muốn lấy tiếng để mà sai chúng, bèn sai người đi rước Đông-cung về đóng ở phố Hội-An (thuộc Quảng-Nam)”

“Lúc bấy giờ, ở phía Nam, có quan Lưu-thủ đất Long-Hồ là Tống Phúc Hợp đem quân ra lấy được ba phủ là Bình-Thuận, Diên-Khánh và Bình-Khánh, rồi lại tiến binh ra đánh đất Phú-Yên; ở phiá Bắc thì có quân họ Trịnh đóng ở Quảng-Nam. Nguyễn Nhạc liệu thế chống không nổi, bèn sai Phan Văn Tuế đem thư và vàng lụa ra nói với Hoàng Ngũ Phúc xin nộp đất Quảng-Nghĩa, Qui-Nhơn, Phú-Yên và xin làm Tiền-khu đi đánh họ Nguyễn... Hoàng Ngũ Phúc bèn làm biểu xin chúa Trịnh cho Nguyễn Nhạc làm Tiên-phong Tướng-quân, Tây-sơn Hiệu-trưởng, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem cờ và ấn kiếm vào cho Nguyễn Nhạc”

“Nguyễn Nhạc không lo mặt Bắc nữa, bèn lập mưu để đánh lấy đất Nam, đem con gái mình là Thọ Hương dâng cho Đông-cung và khoản đãi một cách tôn kính, rồi sai người đến giả nói với Tống Phúc Hợp xin về hàng... Tống Phúc Hợp tin là thật tình không phòng bị gì nữa” (VNSL, quyển II, trang 105, giòng 19-26).
“Nguyễn Nhạc... sai em là Nguyễn Huệ đem quân đến đánh Tống Phúc Hợp. Quân họ Nguyễn thua chạy... Khi được báo tin thắng trận, Hoàng Ngũ Phúc xin chúa Trịnh phong cho Nguyễn Huệ làm Tây-Sơn-hiệu tiên-phong tướng-quân”

“Nguyễn Nhạc thấy thế mình một ngày một mạnh... bèn sai sửa lại thành Đồ-Bàn (kinh-thành cũ của Chiêm-Thành) rồi đến tháng Ba năm Bính-Thân (1776) tự xưng làm Tây-sơn-vương... đưa Đông-cung ra ở chùa Thập Tháp. Đông-cung trốn về Gia-Định...”

“... Năm Đinh-Dậu (1777), Nguyễn Nhạc sai người ra xin với chúa Trịnh cho trấn thủ Quảng-Nam... Trịnh Sâm phong cho Nguyễn Nhạc làm Quảng-nam Trấn-thủ, Tuyên-úy Đại-sứ, Cung quận công (VNSL, quyển II, trang 106, trang 29-33)... Qua năm sau là năm Mậu-Tuất (1778), Nguyễn Nhạc tự xưng đế hiệu, đặt niên hiệu là Thái-Đức, gọi thành Đồ-Bàn là Hoàng-đế thành, phong cho Nguyễn Lữ làm Tiết-chế, Nguyễn Huệ làm Long-nhương Tướng-quân”

“Nhân Bắc-Hà bị loạn kiêu binh, Nguyễn Huệ đem quân ra dứt họ Trịnh, rồi vua Hiển tông (Cảnh-Hưng) mất, Duy Kỳ lên nối ngôi tức vua Lê Chiêu-Thống... Nguyễn Nhạc phải ra Bắc, gặp vua Chiêu-Thống, ... xong rút quân về Nam (VNSL, quyển II, trang 121-122, cuối giòng 31). Về Qui-Nhơn rồi, Nguyễn Nhạc tự xưng làm Trung-ương Hoàng-đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông-định-vương ở đất Gia-Định, cho Nguyễn Huệ làm Bắc-bình-vương ở đất Thuận-Hóa lấy Hải-Vân-Sơn làm giới-hạn”.

Luận theo lễ nghĩa thời bấy giờ thì anh em Tây-Sơn trong sẵn thâm tình cốt nhục, ngoài còn thêm đạo nghĩa chúa tôi. Nhưng vì tình nghĩa không tròn, anh em hiềm khích nhau, Nguyễn Huệ đem quân Phú-Xuân vào vây đánh Qui Nhơn, ngặt đến nỗi Nguyễn Nhạc phải vời đô-đốc Đặng Văn Chân đem quân ở Gia-Định ra cứu (VNSL, quyển II, trang 146, giòng 17-20), nhưng vô ích vì Chân là thuộc tướng của Huệ, nên Nhạc phải thân lên thành mà kêu khóc, gọi Nguyễn Huệ mà bảo rằng: ‘Nỡ nào lại nồi da nấu thịt như thế’. Nguyễn Huệ mới giải vây rút quân về Thuận Hóa”
(VNSL, quyển II).

Sau khi đại thắng quân Thanh, đuổi Tôn Sĩ Nghị, vua Quang Trung mất năm Nhâm-Tý (1792)... Năm 1793, Nguyễn Phúc Ánh (xưng Vương từ 1780) sai Tôn Thất Hội, Võ Tính, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành đem binh tiến đánh Qui-Nhơn. Nguyễn Nhạc phải sai người ra cầu cứu Phú-Xuân. Bấy giờ vua Quang Trung mất rồi, vua Cảnh Thịnh sai Thái-úy Phạm Công Hưng, hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Đại-tư-lệ Lê Trung và Đại-tư-mã Ngô Văn Sở đem 17,000 bộ binh và 80 voi đi đường bộ; và đại thống-lĩnh Đặng Văn Chân đem 30 chiến thuyền đi đường bể, cả hai đạo cùng tiến vào cứu Qui-Nhơn.

“Nguyễn vương thấy viện binh đã đến, liệu thế chống không nổi, rút quân về Diên-Khánh...”
(VNSL, quyển II).

“Bọn Phạm Công Hưng giải được vây rồi, kéo quân vào thành Qui-Nhơn chiếm giữ lấy thành trì và tịch biên cả kho. Nguyễn Nhạc thấy vậy, tức giận đến thổ huyết ra mà chết. Ông làm vua được 16 năm (1778-1794)” (VNSL, quyển II, trang 154, giòng 33-34 đến trang 155, giòng 1-2). (VNSL, quyển I)

Sự nghiệp của Tây-Sơn ở Qui-Nhơn kể từ khi Nguyễn Nhạc lập trại (1771) đến khi bị quân Phú-Xuân cưỡng đoạt (1794) tất cả được 23 năm.

Từ Biện-lại xuất thân, Nguyễn Nhạc đứng lên khởi nghĩa, chỉ trong 7 năm (1771-1778), tay trắng dựng thành đế nghiệp. Ông đã nhân thời thế mà tạo nên thời thế, tùy theo tình hình diễn biến, để tranh cái thắng về cho mình. Ngay khi khởi sự, trong việc dùng mưu “tự nộp mình” để đánh lấy thành Qui-Nhơn (1772), Nguyễn Nhạc đã tỏ ra “một người có can đảm”, có thể nói đấy là hành động vô cùng liều lĩnh! Không biết các danh tướng Tây-Sơn như Nguyễn Huệ (năm ấy đã 20 tuổi 1752-1772), Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng v.v... bấy giờ ở đâu, mà không thấy xuất hiện để đánh lấy Qui-Nhơn? Đến nỗi Nguyễn Nhạc phải đích thân lộng hiểm? Hậu thế không dám nghi rằng các danh tướng Tây-Sơn muốn mượn tay Tuần-phủ Nguyễn Khắc Tuyên để sớm triệt hạ Nguyễn Nhạc dọn đường... cho một người nào khác kế vị?

Sau khi lấy được Qui-Nhơn làm căn bản, trong đoạn đường dựng nên đế nghiệp, Nguyễn Nhạc đã tỏ ra “một người lắm cơ trí” như sử gia Trần Trọng Kim đã ghi:

Từ lúc khởi nghiệp, Nguyễn Nhạc đã dùng họ mẹ để thu phục nhân tâm, rước Đông-cung về Hội-An để lấy danh nghĩa phù Nguyễn, giả hàng Hoàng Ngũ Phúc và nhận tước phong của chúa Trịnh, gả con gái là Thọ Hương cho Đông-cung họ Nguyễn để đánh lừa Tống Phúc Hợp, rồi sai Huệ đánh Tống Phúc Hợp, xưng Tây-sơn-vương, lưu Đông-cung ra chùa Thập-Tháp nên Đông-cung trốn về Gia-Định, xin chúa Trịnh làm trấn thủ Quảng-Nam, quay lại đánh Gia-Định, diệt Thái-thượng-hoàng và Đông-cung (được lập làm Tân-chính-vương), xưng đế hiệu là Thái-đức đóng đô ở Đồ Bàn, v.v... Bao nhiêu mưu thuật được sử dụng để hòa hoãn với kẻ địch ở xa là Trịnh, hầu rảnh tay để triệt hạ kẻ thù ở gần là Nguyễn, rồi dựng sự nghiệp Tây-Sơn lên đất đai của họ Nguyễn, giết luôn Tân-chính-vương họ Nguyễn là rể của mình.

Lẽ tất nhiên, việc “binh bất yểm trá” là điều cần thiết cho vị anh hùng áo vải, nhân thời thế tạo thời thế để thành công. Nguyễn Nhạc không bị lúng túng vì mặc cảm “sớm đầu tối đánh”, quả là một người có đủ quyền mưu và đởm lược. Ông cũng không bị lúng túng về đạo nghĩa, nên trước rước Đông-cung về phò, gả con gái cho Đông-cung, sau khiến Nguyễn Huệ bắt giết đi: không dung được rể, hẵn cũng chẳng thương con. Nghiệp dĩ trong trường tranh bá đồ vương vốn không có chỗ cho tình nghĩa!!

Sau chuyến Bắc du, tương kiến với Lê Chiêu-Thống, Nguyễn Nhạc ra lệnh rút quân Tây-Sơn về Nam. Về đến Qui-Nhơn, Nguyễn Nhạc cải xưng làm Trung-ương Hoàng-đế, phong Nguyễn Lữ làm Đông-định-vương ở Gia-Định, Nguyễn Huệ làm Bắc-bình-vương ở Thuận-Hóa. Được ít lâu anh em có chuyện hiềm khích với nhau, Nguyễn Huệ đem binh Phú-Xuân vào vây đánh Qui-Nhơn...

Không biết nguyên do sâu xa và quan trọng nào đã đưa đến việc động binh này, vì không thấy ghi trong Việt-Nam Sử Lược. Đáng lý, trước khi ra quân, triều đình Phú-Xuân phải hài tội trạng Nguyễn Nhạc, và chắc chắn các sử gia của vua Gia Long sau này không ngần ngại bố cáo rộng rãi cho nhân dân thấu rõ! Đây là một điểm mà các sử gia hậu thế có thể sưu tầm mong làm sáng tỏ, bởi đâu mà em đem thuộc hạ về cố thổ vây anh, tướng biên thần dẫn tướng binh về kinh đô hiếp chúa?!

Nếu chỉ vì tranh chấp quyền hành mà sanh hiềm khích, khi vây đánh Qui-Nhơn, triều thần Phú-Xuân và Nguyễn Huệ chưa thấy cái nguy cơ đã xuất hiện ở phiùa Nam: Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm-La về, đã dựng được cơ sở vững vàng ở vùng Gia-Định từ tháng Tám năm 1788. Trừ Phạm Văn Tham còn đánh dằng co ở Ba-Thắc, bao nhiêu chiến tướng Tây-Sơn đều theo Nguyễn Huệ, kể cả Đặng Văn Chân do Nguyễn Nhạc rút từ Gia-Định về để cứu Qui-Nhơn khi bị binh Phú-Xuân vây khổn. Do đó, Nguyễn Nhạc bị yếu thế, mà phải đương đầu trực tiếp với các đạo quân phục nghiệp của Nguyễn Phúc Ánh từ trận Bình-Thuận (1790), qua mấy trận giặc mùa, cho đến khi thủy trại Thị-Nại bị đốt (1793), rồi Qui-Nhơn bị quân Gia-Định tiến đánh lần thứ nhứt.

Tuy nhiên, đối diện với các đạo quân phục nghiệp của Nguyễn Phúc Ánh, Nguyễn Nhạc vẫn giữ vững được Qui-Nhơn suốt 3 năm: dù có hiểm nguy nhưng hoàng-thành không bị mất.

Vì Qui-Nhơn là cơ-sở xuất-phát của Tây-Sơn, nên Qui-Nhơn là gốc, mà Phú-Xuân hay Phụng-hoàng Trung-đô chỉ là ngọn. Từ 1771 là năm Ông khởi-nghiệp cho đến năm 1793 là khi Ông tức giận đến thổ huyết ra mà chết, Ông sống với Qui-Nhơn 22 năm. Ông không có biệt tài về quân sự, dưới trướng Ông cũng không có danh-tướng, vì bao nhiêu người giỏi dụng binh như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, v.v... đều theo ông Huệ. Vậy mà suốt 3 năm, bao nhiêu lần quân Gia-Định đến đánh vẫn không hạ được Qui-Nhơn, chắc-chắn là vì ông Nguyễn Nhạc đã được sự ủng-hộ trung-thành của tướng-sĩ và nhân-dân Qui-Nhơn; nhứt là nhân-dân Qui-Nhơn đã tận lực giúp Ông chống lại các đội quân do tiền-quân Lê Văn Câu, Võ Tính, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Trương từ Gia-Định đánh ra.

Tóm lại, Nguyễn Nhạc xứng đáng được sử gia Trần Trọng Kim phê là: “một người có can đảm và lắm cơ trí”. Đáng lý, Ông nên được hậu thế Qui-Nhơn nhắc nhở. Ông khởi nghiệp từ ấp Tây-Sơn và dựng lên đế nghiệp ở Qui-Nhơn. Ông đã sống tại Qui-Nhơn, Ông đã giữ vững và sống với Qui-Nhơn, rồi Ông chết tại Qui-Nhơn. Chính Ông là người thật sự đã đưa Qui-Nhơn vào lịch-sử!

Thế nhưng, Nguyễn Nhạc lại là người gánh chịu số phận hẩm-hiu ngay trong gia-đình Ông, tại cư-quán Ông, và trong lịch-sử Việt-Nam.

Trong gia-đình, Ông là anh trưởng mà cũng là vua sáng nghiệp. Ông bị chính em ruột là Nguyễn Huệ đem binh vây đánh Qui-Nhơn. Ông phải lên thành khóc lóc, Nguyễn Huệ mới rút quân về Phú-Xuân!

Sau cuộc binh biến Qui-Nhơn, lại đến việc Nguyễn Huệ lên ngôi ở Bàn-Sơn, khiến quân binh Tây-Sơn bị chia thành hai triều-đình. Tự dưng Tây-Sơn thành ra yếu thế ở mặt Nam mà Nguyễn Nhạc phải trực tiếp đối đầu, trong khi không có tướng tài trấn giữ phía có cường thù là Nguyễn Phúc Ánh đang thông-lãnh nhiều tướng tài và tinh-binh ở Gia-Định! Cán cân binh lực bị chênh lệch, quân Gia-Định mạnh hơn, thì thế bại của hoàng-thành Qui-Nhơn đã trở thành hiển hiện!

Điều chua xót cho Nguyễn Nhạc là Qui-Nhơn chưa bị mất vào tay tướng binh của Nguyễn Phúc Ánh, mà lại mất vào tay tướng binh Phú-Xuân, tức là tướng binh Tây-Sơn đã từng là thuộc hạ của chính Ông, do chính Ông đã sai người ra cầu cứu!

Hơn 150 năm sau, sử gia Trần Trọng Kim cũng không giữ đuợc ngòi bút vô-tư, đã chèn ép Nguyễn Nhạc một cách oan-uổng khi viết các chương Việt-sử liên-quan đến nhà Tây Sơn!

Tại Chương XI, nhà Nguyễn Tây-Sơn (1788-1802) trang 127, Lệ Thần Trần Trọng Kim viết rằng: “Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục; ba là dẹp loạn yên dân dựng nghiệp ở trung nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đạt không thành; hai là xưng đế xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa; ba là những người ngoại chủng vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều.”

Trang 128, cụ lại viết rằng: “Lúc ấy anh em Nguyễn Nhạc là người dân mặc áo vải, dấy binh ở ấp Tây-Sơn, chống nhau với chúa Nguyễn để lập nghiệp ở đất Qui-Nhơn. Tuy rằng đối với họ Nguyễn là cừu địch, nhưng mà đối với nước Nam, thì chẳng qua cũng là một người anh hùng lập thân trong lúc biến loạn đó mà thôi.”

Trang 129, giòng 28-29, cụ lại viết rằng: ”... nhà Nguyễn Tây Sơn cũng là một nhà chính thống như nhà Đinh và nhà Lê vậy” Đến đây, khi luận về chính-thống của nhà Nguyễn Tây Sơn, quả nhiên cụ Trần Trọng Kim đã có thái- độ khẳng-khái ngay thẳng của một sử-gia bất-khuất, không tránh né, không úy kÿ vì khi quyển Việt-Nam Sử Lược xuất-bản thì triều-đình Bảo-Đại vẫn còn. Thế nhưng luận về vị vua sáng-nghiệp của nhà Nguyễn Tây-Sơn, cụ lại thiên-vị Nguyễn Huệ mà ruồng-rẫy Nguyễn Nhạc một cách phũ-phàng."

Nhắc đến Tây-Sơn, thì ai cũng biết danh xưng này do Nguyễn Nhạc mà có. Không dùng hai chữ “Tây-Sơn” thì thôi, bằng nhắc đến hai chữ này tất phải nghĩ đến Nguyễn Nhạc trước tiên. Khi luận về một triều-đại chính-thống, đương nhiên phải nhắc đến vị vua sáng-nghiệp, tức vị vua đầu tiên của họ này. Nhà Đinh thì khởi từ Đinh Bộ Lĩnh (Tiên-Hoàng). Nhà Tiền-Lê thì khởi từ Lê Hoàn (Đại-Hành). Nhà Hậu-Lý thì khởi từ Thái-Tổ Lý Công Uẩn. Nhà Hậu-Lê, thì khởi từ Thái-Tổ Lê Lợi. Nhà Tây-Sơn phải khởi từ Nguyễn Nhạc: vì Ông đã lập trại ở ấp Tây-Sơn (1771), nhận chức Tiên-phong Tướng-quân, Tây-sơn Hiệu-trưởng của Trịnh Sâm, xưng Tây-sơn-vương (1776), rồi xưng Thái-đức Hoàng-đế (1778), sau cải hiệu là Trung-ương Hoàng-đế (1787) tại thành Đồ-Bàn. Thời-gian 9 năm (1778, tự xưng – 1787, cải hiệu), triều đại Tây-Sơn đã có nền-nếp kỷ-cương rõ-ràng: Nguyễn Nhạc vừa là anh mà cũng vừa là chúa; Nguyễn Huệ là em ruột mà cũng là bề tôi. Vậy vị vua sáng-nghiệp mà cũng là vị vua đầu tiên của nhà Tây-Sơn là Nguyễn Nhạc, không thể bỏ ngang mà thay thế bằng tên người khác được.

Tất nhiên, đối với võ-công hiển-hách đại-phá 20 vạn quân Thanh để cứu nước (1789), dân-tộc Việt- Nam phải luôn luôn ghi nhớ ơn Nguyễn Huệ; hậu-thế muôn đời phải khâm-phục Ngài. Nhưng không nên vì thế mà sử-gia chối bỏ vị-trí sáng-nghiệp của Nguyễn Nhạc, bởi không thể đặt ai khác hơn ông Nhạc vào ngôi sáng-nghiệp của nhà Nguyễn Tây-Sơn chánh-thống.

Tại trang 127, sử gia Trần Trọng Kim đã luận rằng: “... nhà nào xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa... thì cho là ngụy triều.” Lập luận này được cụ nhắc lại ở trang 165: “... Nhà Tây-Sơn khởi đầu từ năm Mậu Tuất (1778) tức là năm Nguyễn Nhạc xưng đế hiệu là Thái-Đức. Nhưng Nguyễn Nhạc chỉ làm vua từ đất Quảng-Nam, Quảng-Nghĩa trở vào mà thôi, còn từ Phú-Xuân trở ra thì thuộc nhà Lê. Đến năm Mậu Thân (1788), vua Quang Trung xưng đế hiệu rồi ra đánh giặc Thanh, lấy lại đất Bắc-Hà. Từ đó, nước Nam mới thuộc về nhà Nguyễn Tây-Sơn”. Thực ra, vào đầu năm Mậu Thân (1788), lãnh-thổ Tây-Sơn đã bao gồm luôn cả đất đai nhà Lê từ ngày Nguyễn Huệ giết Vũ Văn Nhậm, đặt Lê Duy Cẩn làm Giám-quốc chủ-trương việc tế lễ, xong chọn ngày về Nam, để Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhậm ở lại giữ Bắc-Hà (trang 125). Trong thời điểm này, danh nghĩa Tây-Sơn vẫn còn chánh-đáng dưới triều-đình của Trung-ương Hoàng-đế ở Qui-Nhơn, gồm trọn lãnh thổ do tướng binh của Tây-Sơn trấn giữ.

Đoạn này cho thấy: sử-gia Trần Trọng Kim quan-niệm rằng nước Nam của nhà Lê chỉ từ Bắc-Hà vào Phú-Xuân, và nhà nào lấy được đất nhà Lê mới được cụ xem là triều-đại chánh-thống! Nếu thế, thiết nghĩ cụ gọi triều-đại Phú-Xuân của Nguyễn Huệ là nhà Hậu Hồ cũng được, vì Nguyễn Huệ đã dứt được họ Trịnh, dẹp tan Nguyễn Hữu Chỉnh, rồi đại phá quân Thanh, dựng nghiệp đế từ Nam quan đến Hải-Vân-Sơn. Luận rằng nhà Hậu Hồ là chính thống, chắc chắn danh đã chánh mà ngôn cũng thuận. Danh chánh vì họ Hồ là họ thật của Nguyễn Huệ, đã xưng đế rồi thì còn ngại gì mà không trở về họ thật với tổ tiên. Gọi triều-đại Phú-Xuân là nhà Hậu Hồ, vì cuối nhà Trần, đã có triều-đại phù-du của Hồ Quý Ly tức nhà Tiền Hồ ở Tây-Đô. Vì muốn khôi-phục, Lê-Chiêu-Thống đã rước giặc Thanh làm hại nước. Nhà Hậu-Hồ từ Phú-Xuân đem quân phá giặc Thanh, rồi lên thay nhà Hậu-Lê là thuận-lý. Với thái-độ công-bình này, sử-gia tất-nhiên xác-định vị-trí xứng-đáng cho Nguyễn Nhạc trong lịch-sử, vì Nguyễn Nhạc mới thật sự là hoàng-đế của triều-đại chính-thống Tây-Sơn.

Khi nhận làm Thủ-tướng cho Bảo Đại, hẵn cụ Trần Trọng Kim đã thấy đất nước Việt-Nam từ Nam Quan đến Cà Mau, rộng gấp hai lần Nam Quan – Sông Gianh: hình thái lãnh thổ Việt-Nam thống nhứt từ Nam Quan đến Cà-Mau đã thể hiện gần trọn hai năm 1777-1778 dưới triều Tây-Sơn của Nguyễn Nhạc, mà kinh-đô là Qui-Nhơn. Dù có vụ binh biến ở Qui Nhơn, khi Bắc-bình-vương rút quân về Phú-Xuân, rồi đem quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, trừ Vũ Văn Nhậm, đặt Lê Duy Cẩn làm Giám-quốc, thì triều đại Tây Sơn đang vào thời cực thịnh. Bấy giờ, Nguyễn Phúc Ánh đang còn lưu vong bên Xiêm-La (Thái-Lan sau này). Ở Bắc-Hà mãi đến ngày 11 tháng 11 năm Mậu Thân (1788), Tôn Sĩ Nghị mới đưa quân vào đóng hai bên bờ Nhị-Hà chờ tiến chiếm Thăng Long. Khi Nguyễn Huệ lên ngôi xưng đế ở Bàn-Sơn thì hình thái lãnh thổ bất phân dưới triều đại Tây-Sơn thống nhứt vỡ tan, lỡ đi một cơ hội cho dân tộc Việt-Nam, phải chờ đến 14 năm sau mới thể hiện được!

Tiếc thay! Giá mà xưa kia, Nguyễn Huệ đừng nghe nhóm cận thần, không xưng đế ở Bàn Sơn, mà chỉ đem đội khoái-binh ra Bắc phá quân Thanh, rồi nhân thanh thế đang lừng lẫy, chuyển đại-quân ngang qua Qui-Nhơn thẳng tiến về Nam. Quang-trung-đế không làm được việc này, nhưng Bắc-bình-vương có thể làm việc này hợp tình hợp lý. Bắc-bình-vương có thừa khả năng để thắng được quân binh của Nguyễn Phúc Ánh ở Gia-Định! Sau đó thì Nguyễn Huệ chỉ đứng sau có một người, mà triều-đại Tây-Sơn vững-vàng như Trường Sơn và miên-viễn như Cửu Long; hẵn nước Việt đã sớm được dẫn vào thời minh-trị!

Tiếc thay! Việc xưng đế ở Bàn-Sơn làm gãy đổ thế thống-nhứt Tây-Sơn, đang một thành ba: quân Gia-Định quyết tiến đánh Qui-Nhơn, khai-thác cái thế bất-hoà giữa Qui-Nhơn và Phú-Xuân. Ngay khi Nguyễn Huệ lên ngôi xưng đế ở Bàn-Sơn, thì triều-đại Tây-Sơn đang chuyển sang cái dốc suy tàn. Chiến-thắng Hà-Hồi (mồng Ba tháng Giêng năm Kỷ-Dậu (1789), Ngọc-Hồi (mồng Năm), Đống-Đa là những trang sử thật vẻ-vang cho dân-tộc Việt-Nam, nhưng cũng chỉ là những ánh chớp huy-hoàng tiên báo sự sụp đổ của triều-đình “trọng võ” ở Phú-Xuân. Võ-công hiển-hách “phá Thanh” không tạo được sự vững bền của triều-đại Tây-Sơn. Hai triều Tây-Sơn xâu xé nhau, chỉ lợi cho đội quân phục-nghiệp của Nguyễn Phúc Ánh. Anh em ông Nhạc–Huệ không thuận hòa, gây hậu quả là hai bầy con cháu không dung tha nhau được, khiến các quyền-thần của hai triều-đình sát-hại nhau. Đấy không phải là hạnh-phúc của nhân-dân Tây-Sơn, đặc-biệt tại Qui-Nhơn. Không giữ an vui được cho dân, làm sao thừa được mệnh trời! Khi lòng dân biến rồi, thì Qui-Nhơn phải mất, lôi cuốn nhà Tây-Sơn phải đổ!

Thói đời “được làm vua, thua là giặc”, khi đại-cuộc hư rồi, thì họ Hồ ở Phù-Ly còn mong được gì sự khoan dung ở một triều-đại cừu-thù, càng không thể mong đợi gì từ một ông vua (Gia-Long) vốn đã tàn-nhẫn lại đang nặng lòng báo hận cho ông cha, từng bị Nguyễn Huệ giết hại.

Cho nên vua Gia-Long truy tầm con cháu ông Huệ giết cho tận tuyệt. Sau này, lại còn truy tầm hậu duệ của ông Nhạc (còn trốn tránh) để hành hình. Vài truyền thuyết còn ghi rằng xương cốt của Thái-Đức, Quang Trung từng bị moi lên làm nhục!

Thương cho Nguyễn Nhạc, Ông sinh ra tại Qui-Nhơn, lớn lên tại Qui-Nhơn, khởi nghĩa tại Qui-Nhơn, lập trại lên ngôi vương tại Qui-Nhơn, xưng đế tại Qui-Nhơn, cứ thủ Qui-Nhơn là thành trì do chính ông xây dựng để lập triều đình ở đấy rồi loang máu chết tại Qui-Nhơn vì phẫn uất, khi bị chính bọn phản thần — vốn là bầy tôi cũ của ông từ Phú-Xuân vào — thừa nguy-cơ chiếm-đoạt.
Qui-Nhơn và Ông liên-hệ mật-thiết như vậy, nên khi Ông chết rồi, Qui-Nhơn làm sao tồn -tại được! Thành quách còn đó, nhưng bị đổi tên. Thu phục được Qui-Nhơn, Nguyễn Phúc Ánh cải lại là: “Bình-Định”. Bây giờ, còn ai nghĩ mình là dân Qui-Nhơn để nhắc nhở Người đã dựng đế-triều tại đó? Còn ai nhắc nhở đến Người đã dọn đường cho tướng binh Tây-Sơn đại thắng quân Thanh? Không có Thái-đức Hoàng-đế năm 1778, tất không có Long-nhương Tướng-quân. Không có Trung-ương Hoàng-đế năm 1787, thì càng không có Bắc-bình-vương.

Thành phố Qui-Nhơn hiện nay nằm trên ven đầm Thị-Nại, nhưng kỷ niệm nhắc nhở vị vua sáng-nghiệp Tây-Sơn bây giờ ở đâu? Cho đến năm 1972, không có được một con đường mang tên Nguyễn Nhạc hay Thái-Đức trong thành phố Qui-Nhơn! Bất-công lịch-sử này bao giờ thì có được người tu-chỉnh? Buồn thay! Dân chúng Qui-Nhơn hôm nay, đối với Ông cũng lãnh-đạm thờ-ơ, chỉ nhớ võ công của người em, quên hết công-nghiệp của ông anh đã dựng lên một triều-đại rỡ-ràng suốt 23 năm tại Qui-Nhơn.

Chạnh nghĩ đến ngôi đền thờ bằng gạch khiêm-tốn của vua Tây-Sơn Nguyễn Nhạc trên lưng đồi ở Phú-Phong, ngày nay không biết có còn ai hương khói? Hay lại bị nhóm cán-bộ vô-thần địa-phương hủy phá, lăng nhục thêm lần nữa theo chỉ-thị của trung-ương? Những người dân ở Phú-Phong bây giờ, có còn ai nhân dịp thỉnh thoảng đến thắp một nén hương để tưởng nhớ đến Ông, một người đã sống chết cho Qui-Nhơn, và cách đây hơn 200 năm, đã đưa Qui-Nhơn vào lịch-sử.



L o n g T u y ề n
giữa đêm 15 tháng 05 năm 1989



12655



Image


H Ọ C .S I N H
v à
S I N H .V I Ê N .V I Ệ T .N A M
h ả i .n g o ạ i .
__________________________________________________________________________


Sau 30-04-1975, hàng triệu người Việt miền Nam đã trốn chạy trước cuộc xâm lăng của cộng sản Hà-Nội. Chạy đợt đầu trong những ngày vừa sụp đổ. Và lần hồi tìm phương trốn thoát khi màn lưới độc tài chụp lên miền Nam. Bằng những chuyến đi ít may mắn nhiều hiểm nguy. Chục lần đi, một lần thoát. Mất tiền vì bị lường gạt. Vào tù khi bị khám phá. Nhưng vẫn cố tìm nẻo để rời khỏi Việt-Nam: đường bộ xuyên Cam-Bu-Chia và Thái-Lan và những đợt thuyền nhân làm chấn động dư luận thế giới, làm bàng hoàng lương tâm nhân loại. Những cuộc chôn dầu vượt biển với những chiếc thuyền mong manh, xếp người đầy chật dưới khoang để qua mắt công an, và thiếu thốn thức ăn nước uống khi ra hải phận quốc tế.

Đằng sau là quê hương bỏ lại, hơn 60 triệu dân loanh quanh trong kiềm tỏa, lây lất sống qua ngày. Ở đó, người lớn bị giam cầm đầy đọa, trẻ thơ bị bỏ rơi hay bị nhồi sọ trong một hoàn cảnh đói khổ triền miên.

Phía trước là đại dương với nghìn trùng bão táp không hẹn ngày giờ, là hải tặc đón đường cướp bóc hãm hiếp rồi giết bỏ. Là đói khát ngày đêm, là bệnh tật không thuốc men. Là thủy táng thân nhân mà không còn chảy được một giòng nước mắt, là trăm phần chết, chỉ có một phần hy-vọng được sống. Bao nhiêu người chôn xác dưới biển sâu, so với số người may mắn được đến bờ?!?

Trong những chuyến vượt biên đầy gian nguy chết chóc, có rất nhiều trẻ thơ. Những người tìm cách đào thoát khỏi Việt-Nam, không hẵn đi tìm sự an toàn cho chính họ. Mà vì tương lai của trẻ thơ, vì phụ huynh muốn cho con em được tiếp tục học hành để thành người trong môi trường không cộng-sản. Xin dằn đau xót để tạm không nhắc đến những gia đình bạc phận bị rơi rớt dọc đường, để tạm không nhắc đến những trẻ thơ vô tội đã bị vùi thây vào lòng biển cả.

Để thử nhìn và theo dõi những thành phần được gọi là tốt phúc, có căn tu, đã cầu Đức Mẹ, đã gọi Chúa, đã niệm Phật, đã nguyện Quán Thế Âm lúc còn lênh đênh trên đại dương với cái chết cận kề trước mắt, cho đến lúc được an toàn đến đất lành.

Một rừng hoa thơm bát ngát, sắc màu rực rỡ trổ trên các sân trường, các khuôn viên đại học, khắp nơi trên thế giới. Rất nhiều trẻ em Việt-Nam theo cha mẹ tị nạn cộng-sản trước và sau 1975, đã thành công mỹ mãn trong việc học hành. (Xin miễn bàn về các em không lo học, bỏ đi chơi hoang, dành vào một dịp khác.)

Trên hoang tàn thê thảm của một chế độ cộng hòa không trọn vẹn lành mạnh, nhưng vẫn có tự do và no ấm, trên sụp đổ đau thương của một quốc-gia không được người dân tận tình bảo vệ khi nó còn, nhưng lại thiết tha tiếc nuối khi nó mất, một khối tinh anh đầy triển vọng, trong trắng đã vươn lên làm nền móng tương lai hứa hẹn của khối người Việt hải ngoại, nếu chưa dám nói là của Việt-Nam sau nầy. Trong cái đại họa là mất nước, người Việt hải ngoại tạm khuây khoa trong cái tiểu phúc là trẻ thơ thoát được ra hải ngoại đã có cơ hội học hành theo khả năng và ước nguyện.

Mười mấy năm qua...

Hàng năm, báo chí lần lượt ghi nhận, tuyên dương các học sinh xuất sắc, đề cao những sinh viên tốt nghiệp tối ưu. Thật là mừng cho các gia đình có con em học hành siêng năng, đỗ đạt. Và cũng là niềm hãnh diện cho người Việt nói chung, vì dù chịu cảnh lưu vong, nhưng vẫn không hổ thẹn với bốn ngàn năm văn hiến, nên con cháu xiêu lạc vẫn giữ được vốn liếng thông minh, chịu khó học hành thành đạt, nhất trên con đường cử nghiệp và khoa bảng.

Nhưng khi xét kỹ lại vấn đề, nhìn vào những thành quả huy hoàng của các học sinh và sinh viên này, thì không khỏi ngậm ngùi.

Đọc bài tường thuật một em bé Việt-Nam đoạt giải Spelling Bee, được hiệu trưởng đề cao vì em đã đoạt giải về cho trường, được thống đốc ban khen vì em đã đem giải về cho tiểu bang; câu hỏi được đặt ra: em bé Việt-Nam đoạt giải spelling tiếng Hoa-Kỳ, em có nói được tiếng Việt-Nam? Em có đọc được chữ Việt-Nam? Nhứt là em có đánh vần chữ Việt-Nam thông thạo như em đã đánh vần chữ Mỹ? Nếu em chỉ giỏi đánh vần chữ Mỹ, còn tiếng Việt em không nói, vần Việt em không thuộc, chữ Việt em không đọc được thì em chỉ là một trẻ em Mỹ da vàng, em chưa phải là một em bé Việt-Nam! Người Việt hải ngoại hân hoan khen em học giỏi, nhưng đâu có lý do nào đặc biệt để trọn vẹn hãnh diện về em?

Nói như vậy, thì e quá khắc khe đối với em bé Việt-Nam đã đoạt giải Spelling Bee? Vì em hoàn toàn vô tội! Em là một trẻ thơ xuất sắc nhưng không được phụ huynh chăm sóc đúng mức, để em được còn là một trẻ thơ thực sự Việt-Nam!

Chắc chắn phụ huynh em phàn nàn rằng cuộc sống chật vật quá, khó khăn quá, bận rộn quá, không có thì giờ! Hỡi ôi! Nếu đem các trở ngại này so với nỗi gian nguy to tát gấp chục lần mà phụ huynh của em đã vượt qua để tự mình vượt biên tìm tự do, hay đưa được các em ra khỏi Việt-Nam! Vì chểnh mảng hoặc buông xuôi, chọn cái tiện nghi trước mắt khi chấp nhận đất tạm dung này làm quê hương, nên phụ huynh của em không dạy em nói tiếng Việt, không dạy em đọc chữ Việt. Thậm chí ở Hoa-Kỳ, có những gia đình chủ trương nói tiếng Mỹ với con cái trong nhà, vì sợ con không giỏi tiếng Mỹ. Giỏi tiếng ngoại quốc, quên tiếng mẹ đẻ là một điều thiệt thòi! Nhiều người Mỹ muốn học sinh ngữ phải lên đến đại học mới có cơ hội. Đây là ở tại Hoa-Kỳ, có nhiều phương tiện học hành mà còn thế, chắc ở những quốc-gia khác cũng chẳng hơn gì! Ở quốc-gia tân tiến, biết thêm một sinh ngữ là dấu hiệu có học vấn, nếu không nói là một ưu điểm để thành công sau này. Trẻ em Việt-Nam giỏi sinh ngữ tại quốc-gia mình cư trú là một điều cần thiết hiển nhiên, nếu sành thêm tiếng Việt — tiếng mẹ đẻ — là một điều tốt đẹp vẹn toàn. Dù sao, cơ hội vẫn chưa đi mất, vì phụ huynh còn cơ hội để dạy dỗ con em ngay ở nhà. Hơn nữa, tại nhiều cộng đồng Việt-Nam hải ngoại, có lắm nơi tổ chức các lớp dạy tiếng Việt. Xin phụ huynh hãy đưa các em đến đó tiếp tục học hành, cho khỏi quên tiếng mẹ! Các em sẽ là những viên ngọc chuẩn bị để chờ ngày, chờ cơ hội để mai sau này trở thành người Việt-Nam hữu dụng khi cần thiết: vì các em biết nói, đọc, và hiểu tiếng Việt-Nam.

Có một hành nhân ghé thăm, kể lại chuyện một học sinh trung học ở Đức đã đoạt giải về môn sử ký với lời khen: “Tuổi trẻ Việt-Nam làm cho người Việt-Nam hãnh diện”. Và còn cho biết thêm là em đã nói rằng: “Tôi thích học sử Đức quốc vì lịch sử nước này có nhiều anh hùng như trong lịch sử Việt-Nam”. Một bạn trẻ ở đây đã hỏi một câu gay gắt: “16 tuổi, em đã học sử Việt-Nam nào để biết về những anh hùng Việt-Nam?” Khi phát biểu ý kiến rõ ràng hơn, anh bạn này chỉ ngại rằng em học sinh nói trên đã đọc những quyển sách do người ngoại quốc viết sai lệch về Việt-Nam, hoặc những tài liệu tuyên truyền do cộng-sản ấn hành bày đầy trong các thư viện các trường. Lỗi này do các tòa đại sứ tại nhiệm (của hai nền Việt-Nam Cộng Hòa trước đây) không chú tâm đến vấn đề này, nên các thư viện luôn có sách của cộng sản Hà-Nội nhiều hơn sách của miền Nam tự do!

Dù sao, trong số các học sinh Việt-Nam, vẫn còn có những em tha thiết với tiếng Việt, tìm sách Việt-Nam để đọc, tìm sử Việt-Nam để học. Đây là một niềm khích lệ cho những ai còn lo lắng cho tiền đồ hậu vận quốc-gia. Những em này là những hòn ngọc quý. Là ngọc quý thì phải dồi mài thêm cho sáng giá. Theo ngôn ngữ người xưa, đọc sách học sử là dồi mài kinh sử. Thanh niên Việt-Nam hải ngoại đang chăm học để trau dồi kiến thức. Cần phải có người hướng dẫn để các em đừng đọc các loại loạn thư yêu văn. Nếu không hướng dẫn, thì các em có thể đọc sách cộng-sản, thấm nhuần lý luận cộng-sản, nhận những sự kiện lịch sử hiện đại qua lăng kính cộng-sản. Rồi khi có dịp các em sẽ đưa ra các luận điệu đã bị tiêm nhiễm này một cách chân thành; lúc ấy, có đau lòng cũng là muộn rồi! Ôi! Các phụ huynh, nhất là những vị trọn đời chiến đấu chống lại cộng sản Hà-Nội, xin quý vị hãy chú ý đến các sách báo mà con em quý vị đã, đang và sẽ đọc. Không nên cấm đoán mà vi phạm nhân quyền, tự do báo chí! Nhưng việc này quý vị không thể tháo trút cho ai được. Mà hậu quả thật khó lường vì quý vị là nạn nhân đầu tiên cận kề các em! Rồi người Việt hải ngoại sẽ là nạn nhân của các em liền sau đó. Bao nhiêu cán bộ cộng-sản chìm nổi đã xâm nhập, khuấy trộn, phá phách cộng đồng Quốc-gia hải ngoại quá nhiều! Thêm số học sinh trẻ bị ô nhiễm này là thêm gánh nặng đối nghịch.

Điều đau nhứt: Những thiếu niên này sẽ tăng cường hàng ngũ địch, lại chính là con em mà chúng ta yêu thương! Thế nên, đối với các học sinh đang theo chương trình trung học, sự dìu dắt của phụ huynh, nhứt là những phụ huynh từng dâng hiến gần trọn cuộc đời để bảo vệ miền Nam, lại càng phải lưu tâm đến, để hướng dẫn con em có tinh thần Quốc-gia, biết yêu quốc kỳ và quốc ca của miền Nam tự do, biết yêu quê hương Việt-Nam và có ý niệm rõ ràng về cuộc tranh đấu đầy xương máu hơn 20 năm (1954-1975) trước các cuộc tấn công dồn dập của cộng sản Hà-Nội. May ra, các em biết được sự hi-sinh cao cả của phụ huynh, để rồi các em có thể có ý thức được nhiệm vụ của chính các em đối với Việt-Nam sau này!

Lên một bậc cao hơn, mỗi sinh viên bước vào ngưỡng cửa đại học, đều mang theo bao nhiêu mơ ước ở trong lòng. Mà cũng mang theo bao nhiêu kỳ vọng của các bậc phu huynh ngầm gởi gấm.

Xin không nhắc ở đây, những thanh niên da vàng có cha mẹ là người Việt-Nam, mà không nói tiếng Việt (tất không đọc được chữ Việt), không có một tâm ý nào hướng về Việt-Nam. Những kẻ này dù có tốt nghiệp, thành công, cũng chỉ là những người ngoại quốc đối với Việt-Nam. Đất nước yêu thương đang đau khổ, đâu dám mong mỏi gì ở những người mất gốc, thờ ơ, xa lạ đó!

Chỉ xin đề cập ở đây, những thanh niên nam nữ Việt-Nam đang còn nói tiếng Việt, đọc sách Việt, viết văn Việt, đang còn tìm hiểu về lịch sử, về phong hoá Việt-Nam. Tương lai Việt-Nam hoàn toàn trông cậy vào lớp trẻ đầy hứa hẹn này. Có nhiều bậc phụ huynh đã nhẫn nại hi-sinh để vun quén lứa thanh niên vào các thập niên 50, 60, 70... Từ 1975 đến nay là mười mấy năm chăm sóc, bồi dưỡng và chờ đợi! Phụ huynh chỉ ao ước được thấy con em thành đạt trên đường học vấn, để trở thành người hữu dụng. Nhưng liệu bao nhiêu ước vọng thiết tha này có được đền bù một phần nhỏ, về mặt tinh thần!

Thử nhìn những thanh niên đã đỗ đạt: sau khi tốt nghiệp, rời đại học mười mấy năm qua. Có bao nhiêu người, kể cả nam lẫn nữ đã quay lại nhìn quá khứ ấu thơ đen tối của họ. Có bao nhiêu người đã biết xót xa cho dân tộc Việt-Nam đang nghèo đói và khổ đau, trong đó có rất nhiều thanh niên cùng lứa tuổi của họ! Có bao nhiêu người đã biết xót thương các thanh niên đang sống mỏi mòn ở các trại cấm hay tạm cư ở quốc-gia láng giềng, chưa biết bao giờ mới được đặt chân lên cõi đất tạm dung để tiếp tục học hành! Có bao nhiêu người đã dấn thân nhập cuộc với cộng đồng Việt-Nam hải ngoại trong công cuộc đấu tranh đối đầu với cộng sản Hà-Nội ở đây?

Hay chỉ thấy rất nhiều người đã thành công sau khi ra trường, có công ăn việc làm vững chãi, lợi nhiều lương cao, rồi ung dung trong hạnh phúc riêng tư bên cạnh vợ đẹp con ngoan! Tất nhiên, những người này hoàn toàn có lý, làm đúng, không có gì đáng chê trách cả. Nhưng đất nước Việt-Nam đau thương còn mong đợi được gì ở những người này? Dù họ vẫn là những người Việt, còn nói tiếng Việt, đọc sách Việt, còn tự biết mình là người Việt.

Cái học của họ, sự thành đạt của họ chỉ giải quyết được nhu cầu mưu sinh tươi đẹp của riêng gia đình họ. Họ chỉ làm đông thêm số người ngoại quốc nhập tịch để làm nhân công cho quốc-gia đang chứa chấp họ. Họ yên thân và tự mãn trong địa đàng mà họ có đủ mọi thứ: tiền tài, danh vọng, hạnh phúc riêng tư, v.v...

Họ cũng làm đông thêm số người Việt-Nam khoa bảng. Trong quá khứ, khoa bảng đã không phục vụ quốc-gia hữu hiệu suốt cuộc tranh đấu trường kỳ 20 năm trước (1955-1975) để bảo vệ miền Nam, nên miền Nam phải mất! Trong hiện tại, ở quốc nội, chế độ cầm quyền xem khoa bảng không bằng một cục phân. Ở hải ngoại, số khoa bảng càng ngày càng nhiều. Rồi đây, liệu khoa bảng sẽ làm gì cho cuộc tranh đấu cho Việt-Nam tự do còn tiếp tục hiện nay?

Trong mọi quốc-gia, những người có thực học, khoa bảng giàu tâm chí vốn rất cần thiết cho mọi công cuộc kiến tạo, chấn hưng. Trong mọi cuộc đấu tranh, lớp người có thực học khoa bảng, vẫn dự vào hàng lãnh đạo, nếu chưa trực tiếp lãnh đạo.

Sinh viên Việt-Nam sinh chào đời vào các thập niên 1950, 1960 đáng lý đã có mặt trong cuộc tranh đấu quyết liệt ở hải ngoại từ lâu rồi! Hiện giờ họ đang ở đâu? Xin kiên nhẫn đợi thêm 5, 10 năm nữa để thấy các thanh niên hôm nay, những người đã học giỏi ở trường, những người tài năng đỗ đạt cao, đứng ra gánh vác trách nhiệm.

Các sĩ quan đã được đề cao ở các trường võ bị, trước quốc hội Hoa-Kỳ, các sinh viên ưu tú đã được nêu danh ở các đại học từ đầu thập niên 1980! Hãy đứng lên, nhận mình là người Việt-Nam, dành một chút tâm tư hướng về đất tổ Việt-Nam. Trong những năm tháng tới đây, trên đường đấu tranh đối đầu với cộng sản Hà-Nội, xin được thấy các thành phần đỗ đạt cao, và khoa bảng dấn thân.

Nếu trong cuộc tranh đấu còn đầy cam go trước mặt mà vắng bóng thành phần ưu tú này, thì đồng bào hải ngoại đành tạm xem như họ đã mất rồi, mất đối với đồng bào, mất đối với quê hương. Xin để họ yên nghỉ trong phù hoa, trong phồn vinh mà họ đã cầy cục đầu tư từ bốn đến 10 năm dằng dặc với sách đèn mới xây dựng được!

Hình như có một dịp, thầy Lương Kim Định đã dạy rằng: “Không phải được cha mẹ Việt-Nam sinh ra là được làm người Việt, mà phải học mới thành được người Việt-Nam.” Học sinh sinh viên đã được cha mẹ Việt-Nam sinh ra, tất đã hội được một điều kiện cần thiết. Nhưng chưa đủ. Còn phải học làm người Việt-Nam. Không có đại học nào trên thế giới dạy về môn này. Chỉ có những người tuổi trẻ ý thức được mình là người Việt-Nam, rồi lập tâm học hỏi để thành người Việt-Nam. Học ngay trong bản thân, ngay ở các phụ huynh, ngay trong gia đình, ngay trong đồng bào lưu vong ở hải ngoại. Bằng cách dấn thân và chấp nhận hi-sinh, chấp nhận đứng vào nơi có đồng bào, chấp nhận đến những nơi đồng bào đang mong đợi. Học làm người Việt: Để không đánh rơi nguồn gốc của mình.



L o n g T u y ề n
1988 -1989



12693



Image


m ộ t .c h ú t .h ư ớ n g .V Ề .N G U Ồ N
__________________________________________________________________________


một.

Một khuya trong phòng khách phi trường Hobby, Houston, nhân chờ chuyến bay còn hơn nửa tiếng đồng hồ mới đến, tôi đang ngồi ngủ gật, chợt nghe có người nói tiếng Việt. Tôi mở mắt nhìn quanh. Không có ai ngoài gia đình chồng Mỹ–vợ Việt cũng chờ như chúng tôi từ nảy đến giờ. Và tôi thấy người Mỹ râu rậm kia đang nói tiếng Việt với chú bé có mái tóc “kim sinh nửa trắng vàng”, mà nói bằng tiếng Việt thành thạo, dùng những chữ thật quen tai, không gượng gạo, với những âm bằng trắc rõ ràng.

Vừa thán phục người Mỹ kia, tôi vừa bâng khuâng nghĩ đến những người bạn Việt-Nam của tôi đã nói tiếng Anh với con cái trong nhà. Người Mỹ này biết chúng tôi lắng nghe anh nói tiếng Việt hẵn cũng thầm hãnh diện. Chắc những người bạn Việt-Nam của tôi cũng hãnh diện như thế, khi họ nói tiếng Anh với con cái trong nhà, nhứt là khi có mặt chúng tôi là những người rất yếu Anh văn, mà phải sống gởi xứ người, nên đã và đang hành hạ ngoại ngữ một cách bầm dập phũ phàng.


hai.

Đầu Xuân Kỷ Tÿ, chúng tôi theo bạn bè đến thăm chợ Tết Việt-Nam ở Dallas. Trong hội trường trình diễn văn nghệ, theo nghi lễ thường thức, có chào quốc kỳ và hát quốc ca. Vì tạm trú trên đất người, lòng tôi quặn đau khi đứng nghiêm nghe quốc thiều và quốc ca Hoa-Kỳ mà tôi không thuộc một chữ. Nhưng khi quốc thiều Việt-Nam trổi lên, thì tôi sống lại. Và điều làm tôi hứng khởi nhứt là cô gái Mỹ trưởng đoàn hướng đạo giữ nhịp cho các thiếu sinh đồng ca, lúc bấy giờ cũng hát bài “Tiếng Gọi Công Dân” bằng tiếng Việt. Cô nữ hướng đạo sinh này ở Dallas-Fort Worth hẵn có nhiều người biết. Tôi đã cảm ơn cô bằng tiếng Mỹ (thứ tiếng Mỹ bầm dập của tôi) vì cô đã hát bài quốc ca Việt-Nam... bằng tiếng Việt-Nam.

Tôi liên tưởng đến những người đã lớn tuổi, đã nổi danh như nhạc sĩ P.D., đã từng là chánh khách như bác sĩ P.Q.Đ., như dân biểu T.V.Â, đã từng chiến đấu đối diện với cộng-sản như đại tá TQLC P.V.L., như trung tướng Dù N.C.T. là những người mấy năm trước đây đã nỡ lòng chối bỏ bài quốc ca Việt-Nam. Nơi những vị này đang đứng bây giờ, rất xa vời với những người tha thiết yêu Việt-Nam, yêu quốc kỳ, hát nhập tâm những lời hùng tráng và khấn hứa trong bài quốc ca Việt-Nam.


ba.

Cách đây hai năm, tôi được gặp cô An Phương nhân lần cô ghé lại Houston để vận động nhân đạo cho trại tị nạn Hồng Kông. Tên thật của cô là Ann Maria Cusack, người Úc-Đại-Lợi. Cô thật hồn nhiên, giản dị, ăn mặc đơn sơ, vừa đủ lành lặn sạch sẽ, không theo thời trang, không cả phấn son. Tuy ít đi chùa lễ Phật, nhưng vốn sùng đạo, chúng tôi suy nghĩ về câu cô phát biểu: “Có lẽ kiếp trước con là người Việt-Nam” và tin rằng cô đã nói thật. Vì chỉ có những người mang thật nhiều hệ lụy với giống nòi Việt-Nam mới có tinh thần hi-sinh như vậy. Những người ở trại tị nạn kể lại rằng cô đã tận tụy dành thật nhiều thì giờ, thật nhiều tình thương cho đồng bào Việt-Nam đang mỏi mòn chờ đợi trên đảo Hồng Kông, Phi Luật Tân, v.v... vì chưa được quốc-gia nào chấp nhận cho nhập cảnh.

Hôm cô ghé lại nhà tôi, tình cờ có ông bạn già của tôi (tướng Tiếp-vận Không-quân Từ Văn Bê) đang ở đó. Từ ngoài cửa bước vào, cô chắp tay cúi đầu: “Thưa Bác”. Ôi! Hai chữ “Thưa Bác” và cái chấp tay cúi chào của cô An Phương hôm đó, đã thể hiện một khía cạnh rực rỡ của nền văn hóa cổ truyền Việt-Nam. Tôi chợt nghĩ đến các thanh thiếu niên Việt-Nam trong lứa tuổi của cô đã hội nhập vào nền văn minh mới, vội chối bỏ những điều hay đẹp của dân tộc mình. Tôi liên tưởng đến nhiều thanh niên thiếu nữ Việt-Nam ở lứa tuổi của cô đã không lo học hành, chưa làm gì hữu ích cho bản thân, cho gia đình mà còn tụ phe họp đảng, hành động ngoài pháp luật gây bất ổn cho cộng đồng. Ở quê nhà, sống dưới chế độ cộng-sản thì hèn nhát trốn lánh, cóm róm sợ sệt; ra hải ngoại, lợi dụng hai chữ tự do, làm càn vương vào tù tội, uổng phí cả chuyến đi đầy ý nghĩa: “không chấp nhận cộng-sản, liều chết tìm tự do”, làm uổng phí luôn một phần quan trọng của cuộc đời!


bốn.

Chúng tôi đã đi nghe chiến sĩ nhân quyền Võ Văn Ái nói chuyện với sinh viên Việt-Nam ở đại học Houston. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là bên cạnh ông Ái, còn có cô Ỷ Lan. Riêng việc cô dùng hai chữ “Ỷ Lan” làm tên xưng cũng đã là bất phàm. Mười năm trước đây, có mấy người Việt-Nam (trong đó có chúng tôi) còn nhớ Ỷ Lan là nhân vật của thời đại nào trong lịch sử Việt-Nam? Từ ngày cô xuất hiện đưa tên Ỷ Lan trở lại với đời, người Việt lưu vong mới có dịp nghe lại tên bà nguyên phi của triều Hậu Lý thời cực thịnh.

Cô Ỷ Lan vốn người Anh-Cát-Lợi, học xong đại học, gia nhập nhóm tranh đấu nhân quyền cho Việt-Nam, học tiếng nói Việt-Nam, viết bài trên báo Quê Mẹ. Cô tìm danh chăng? Cô được danh gì khi đã chọn đứng về phía những kẻ đang mất nước lưu vong! Cô tìm lợi chăng? Cô được lợi gì khi dấn thân vào con đường “trâu đánh” (chữ của ỷ Lan hàm ý tranh đấu) mà cô luôn phải hi-sinh và đóng góp. Cô đã hi-sinh ngày tháng của tuổi xanh đầy ước mộng trong khi cô có quyền sống nếp sống riêng tư, sung túc nhàn hạ. Cô đã đóng góp nhiều nhưng vẫn không vừa theo ước nguyện vì sức người có hạn, lợi tức có chừng, mà nhu cầu lại vô hạn cho cuộc vận động đòi tự do cho quốc-gia Việt-Nam đang bị cộng-sản độc tài cai trị, đòi nhân quyền cho dân tộc Việt-Nam đang bị bạo quyền chuyên chế đọa đày.

Trong nhân loại, có một hạng người thích “phù suy hơn phù thịnh”. Đấy là những người bất phàm, mang “mặc cảm” hiệp sĩ. Nên hành trang vừa tạm đủ, thì hiên ngang bước vào đời, lo cứu khổn phò nguy, không nghĩ ngợi nhiều về cái sống của riêng mình.

Ỷ Lan là một trong những người này. Tên cô là Penelope Faulkner. Chỉ tên Penelope của cô cũng mang một ý nghĩa tiền định. Vì Penelope là một phụ nữ thời cổ Hy-Lạp. Chồng là Ulysse theo việc chiến chinh. Penelope ở nhà phải khó khăn trăm chiều để đối phó với cám dỗ và bạo lực: ban ngày dệt cửi, đêm tháo ra hết để khỏi bị buộc thi hành lời hứa (là phải tái giá với kẻ bạo ngược, khi mảnh vải còn dang dở trên khung được hoàn tất). Tên là Penelope, hiệu là Ỷ Lan. Xưa là Penelope hạnh thục trinh chuyên quyết dạ thờ chồng, nay là Ỷ Lan linh mẫn cương nghị dấn thân tranh đấu tranh cho “đồng bào không cùng màu da sắc tóc”.

Nếu có dịp ngồi nhìn Ỷ Lan mặc áo dài thảo luận về những kinh nghiệm trên đường tranh đấu cho nhân quyền (mà Ỷ Lan đã ý nhị gọi là con đường trâu đánh — có phải cô muốn nói là con đường đánh trâu để ám chỉ bọn ác ôn kia); nếu có dịp lắng nghe Ỷ Lan ngâm thơ Bàng Bá Lân, tất sẽ thấm hiểu thế nào là tiếng gọi của quê hương, sẽ hiểu tại sao có những người cam dâng hiến trọn cuộc đời để dự vào cuộc đấu tranh vô cùng chênh lệch: địch bên kia có đủ phương tiện để đàn áp bằng bạo lực; còn ta bên này, chỉ có tinh thần bất khuất làm động cơ thúc đẩy những người có lòng còn ưu tư cho tự do và nhân quyền của dân tộc Việt-Nam.


năm.

Chúng tôi đã nghe giáo sư Stephen B. Young đến thuyết trình tại giảng đường đại học Downtown Houston vào giữa năm 1988. Trong hoàn cảnh tuyệt vọng của dân tộc Việt khi miền Nam sụp đổ năm 1975, ông là một trong những người lặng lẽ vận động và thành công trong việc yêu cầu chánh quyền Hoa-Kỳ nhận 140,000 người Việt tị nạn thời tổng thống Henry Ford và sau đó 600,000 người dưới thời tổng thống Jimmy Carter. Người Việt tị nạn ở Hoa-Kỳ hẵn không thể quên những người Mỹ này, trong đó có Stephen B. Young.

Giáo sư Young không những thương xót người Việt tị nạn, mà ông còn chia sẻ cái đau thua trận cùng những người Việt lưu vong còn thiết tha với đất nước đang chịu đọa đày. Nhắc đến ngày 30 tháng Tư 1975, ông thường than thở: “Chúng mình thua trận”. Chúng mình, tức là có ông trong đó. Vì ông đã có mặt trong cuộc chiến Việt-Nam dưới nhiều nhiệm vụ khác nhau: khi ở tòa đại sứ Hoa-Kỳ, khi ở Bộ Xây Dựng Nông Thôn, khi về Phủ Thủ Tướng, khi sang Ủy Ban Bình Định và Phát Triển.

Sau 1975, ông về đi học lại; rồi ra làm Phó-khoa-trưởng Luật-học ở Harward, Khoa-trưởng Luật-học ở Hamline, Giáo sư Luật-học ở Minnesota.

Nếu muốn tiến thủ, giáo sư Young có đủ điều kiện để bước vào chính trường tìm một chỗ đứng cho mình dưới bóng mặt trời Hoa-Kỳ. Nhưng có lẽ cũng mang mặc cảm “phù suy không phù thịnh”, ông đứng về phía yếu của những người Việt-Nam đang tranh đấu chống lại bạo quyền Hà-Nội mà không có phương tiện. Ông đứng về phía những người Việt-Nam yêu chuộng tự do đang tranh đấu đòi tự do cho Việt-Nam. Ông đứng về phía những người Việt-Nam đang tranh đấu cho 62 triệu dân Việt lầm than đang bị cộng-sản Hà-Nội tước đoạt hết nhân quyền.

Dưới bóng cờ Việt-Nam và cờ 18 quốc-gia có đại diện trong Ủy Ban Quốc Tế Yểm Trợ Việt-Nam Tự Do, ông trình bày trước hội trường chật nức hôm đó về vai trò của UBQTYTVNTD trong cuộc đấu tranh cực kỳ gian nan, hầu giúp Việt-Nam tranh đấu đòi lại tự do.

Tôi lắng nghe ông trích dẫn những câu Kiều để chứng minh lý luận của ông về tài, mệnh, đức. Từ một giáo sư Hoa-Kỳ, tôi thấy đây là một điều mới mẻ. Qua những câu ứng đáp rất đáng giá đúng lúc hợp thời, ông khiến tôi thán phục cái bặt thiệp của ông hôm đó, thuần túy bằng ngôn từ Việt-Nam.

Sau các lần gặp những người không Việt-Nam mà rất Việt-Nam này, tôi càng tin tưởng vào vận mệnh quốc-gia và tương lai dân tộc Việt-Nam, vào tiền đồ đất nước mai sau.

Tôi lập luận: “Một người Mỹ học tiếng Việt để nói chuyện với con. Một cô gái Mỹ học lời Việt để hát quốc ca Việt-Nam. Một cô gái Úc học tiếng Việt để phục vụ đồng bào Việt-Nam tị nạn. Một cô gái Anh học tiếng Việt và tự nguyện bước vào con đường trâu đánh để đòi nhân quyền cho dân Việt. Một giáo sư người Mỹ học rành tiếng Việt để dấn thân tranh đấu cho một nước Việt-Nam tự do. Không lẽ người Việt chúng ta, lại lơ là với tiếng Việt, lại không thiết tha đến đồng bào Việt-Nam bằng những người ngoại quốc nêu trên?”

Hỏi tức là trả lời. Mà câu trả lời thường không làm cho ta được vui lòng. Nhưng không vì thế mà chúng ta nản chí, và nếu cần phải bắt đầu làm lại, chúng ta phải tận lực để bắt đầu. Những giòng giải bày sau đây là tâm tư chân thành của một người còn oằn oại, vừa muốn bảo vệ di sản quý báu của tổ tiên là tiếng Việt, vừa trông cậy vào các thế hệ đang lên tiếp tay giữ gìn truyền thống, sẵn sàng góp công bồi đắp vào công cuộc cứu nước trước, rồi dựng lại nước sau này. Những giòng tâm tư này xin thành khẩn gởi đến các chiến hữu đã và đang tận tâm đóng góp rất nhiều vào công cuộc đấu tranh quang phục quê hương.

Tại Hoa-Kỳ, có nhiều bạn đã nêu lên: “Thế hệ chúng ta có nhiều kỷ niệm, quá khứ mang theo, nên chúng ta hằng tha thiết với Việt-Nam. Con em chúng ta đâu nhớ được gì, vì khi chạy sang đây, hoặc chúng còn quá trẻ, hoặc chúng còn thơ ấu! Còn các em sanh ở hải ngoại sau 1975, khi lớn lên ăn chung với trẻ Mỹ, học với thầy Mỹ qua sách Mỹ, chơi với bạn Mỹ, chúng đâu biết gì về Việt-Nam. Vì không biết hồi xưa cũng không liên hệ bây giờ, nên chúng không tha thiết gì đến Việt-Nam! Những chuyện khổ đau của Việt-Nam, đâu làm cho tâm tư chúng xao xuyến như chúng ta?”

Đây là một sự thật phũ phàng, chúng ta phải chấp nhận như vậy, dù rất đau lòng!

Là những người bị thua một trận lớn, nhưng chúng ta không chấp nhận bỏ cuộc. Vì thế lâu nay trong phạm vi nhỏ hẹp chúng ta còn theo đuổi cuộc đấu tranh chung của những người quyết tâm bảo vệ chánh nghĩa Quốc-gia.
Tuy nhiên, đối đầu với cộng-sản Hà-Nội, tuy khó khăn nhưng chúng ta còn có địa bàn và phương tiện để trở xoay. Nhưng cuộc nội trị mong gìn giữ con em chúng ta có ý thức về Việt-Nam, có tâm niệm hướng về Việt-Nam còn khó gấp mấy lần! Nếu chúng ta hờ hững buông xuôi, mặc cho con em chúng ta hội nhập vào đời sống đầy vật chất cám dỗ, đầy xa hoa phù phiếm này, thì mọi cố gắng của chúng ta từ trước đến nay sẽ đứt đoạn, ngay trong nhà chúng ta, khi chúng ta vừa nằm xuống.

Chúng ta không thể buông xuôi chấp nhận thua cuộc trong trận chiến trầm lặng này. Trước tiên, chúng ta phải cố gắng duy trì cho con em chúng ta nói được tiếng Việt vì đây là tài sản quý báu phải bảo tồn nếu chưa phát huy được. Có người nói: “Thà tha thiết đến Việt-Nam mà không nói được tiếng Việt, còn hơn là nói rành tiếng Việt mà chỉ lo du thủ du thực”. Lời phát chua chát này hoàn toàn đúng. Nhưng nếu vừa tha thiết đến Việt-Nam, vừa nói được tiếng Việt, lại càng quý hơn. Có nói rành tiếng Việt, mới hiểu rõ tiếng Việt. Có hiểu rõ tiếng Việt, mới có thể yêu thương đồng bào!

Khi các em đã nói được tiếng Việt, dần dà chúng ta sẽ mớm những ý niệm về cái hay, cái đẹp của quê hương nơi chúng đã sống mà nay không còn nhớ nỗi vì xa cách quá lâu (12 năm vào 1987), hoặc chưa hề thấy vì chúng sanh ở xứ người.

Chắc chắn con em chúng ta đều có ít nhiều hãnh diện về cha mẹ của chúng, dưới nhiều khía cạnh khác nhau! Trước mặt chúng, chúng ta thử nhắc nhở những câu chuyện cũ có thật, lần hồi dẫn dắt cho chúng hiểu biết những cam go mà cha mẹ chúng đã gánh chịu, những hi-sinh lớn nhỏ mà cha mẹ chúng đã trải qua. Xin các chiến hữu đã hiến dâng cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh chống cộng-sản, hãy lần hồi nói lại cho con em biết về quá khứ của mình ở Việt-Nam. Để khi cần, nếu ai có hỏi: “Cha mẹ em là ai?”, các em có thể thành thật và hãnh diện trả lời về cha mẹ mà các em hằng yêu thương. Từ sự kính mến yêu thương và gần gụi này, các em sẽ hiểu hơn: “Cha mẹ mình hiện nay đang làm gì?” mà nay hội mai họp, hết đóng lại góp, ít lo chuyện nhà, mất nhiều thì giờ để lo chuyện thiên hạ. Với ít nhiều may mắn, từ chỗ chịu nhìn vào con đường mà phụ huynh đang theo đuổi, các em có thể thấy được cho mai sau một lối đi ngay thẳng của những người hữu dụng cho quốc-gia xã hội.

Cuộc sống của những kẻ lưu vong tự nó vốn đã khó khăn, tất nhiên đường tranh đấu đòi tự do cho quê hương càng cam go, dẫy đầy chông gai, cạm bẫy, chất chứa rất nhiều cay đắng cho thế hệ chúng ta. Chúng ta có bổn phận phải theo dõi con em chúng ta ở những bước đầu, chỉ dẫn các hầm hố mà ta thấy được, những cạm bẫy mà ta nhận được; và khi các em gặp những thử thách cam go, có khi các em vấp ngã, chúng ta phải sẵn sàng nâng các em dậy, nếu chúng ta còn có dịp.

Con đường chúng ta đang đi là đoạn đường qua sa mạc: khô cằn và trống vắng, bởi không hứa hẹn mà chỉ đòi hỏi sự tận tâm (vì không dám dùng hai chữ hi-sinh). Chúng ta hãy chuẩn bị tinh thần chịu đựng cho con em chúng ta. Hành trang của chúng là hy-vọng vào tương lai, là niềm tin vào chánh nghĩa, và một phần kinh nghiệm của chúng ta trao lại, những kinh nghiệm xót đau mà chúng ta đã phải trả bằng giá thật đắt.

Những biến chuyển gần đây cho thấy chế độ cộng-sản Hà-Nội đang suy tàn. Tuy không phải cận kề, nhưng không còn lâu lắm. Vì chánh nghĩa Quốc-gia càng ngày càng sáng tỏ, vị trí của các chiến sĩ Quốc-gia càng ngày càng vững chãi trước dư luận của thế giới tự do.

Tuy biết như vậy, nhưng có thể chúng ta sẽ không đi đến nơi, về không đến chốn. Hy-vọng rằng con em chúng ta, những thế hệ trẻ ý thức được bổn phận của người Việt-Nam, sẽ may mắn hơn chúng ta. Các em sẽ đem được bài quốc ca “Tiếng Gọi Công Dân” về hát lại dưới bầu trời Việt huy hoàng, đem quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ về giăng lại trên đất nước Việt-Nam lộng lẫy.



L o n g T u y ề n
ngày 14 tháng 8 năm 1989

Image


12694



Image


m ộ t .t ấ m .l ò n g .V À N G . .
__________________________________________________________________________


Vào những ngày cuối tháng Tư 1975, sau khi Long Khánh thất thủ, Sư Đoàn 18 Bộ Binh do tướng Lê Minh Đảo chỉ huy rút lui, hầu như mọi ưu tư của những người cư ngụ trong đô thị Sài-Gòn đều hướng về nơi nào mà được xem là tương đối an toàn cho gia đình, cho thân nhân, mà nơi an toàn nhất lúc bấy giờ là ngoài khơi biển Nam Hải.

Mỗi người có một biện pháp, giải quyết riêng. Cuối tháng 3, đã có một gia đình dùng thuyền du lịch, đến Singapore an toàn. Khoảng đầu tháng 4, một phi cơ vận tải C.130 đáp xuống sân Long Thành (Bear Cat) (bị bỏ hoang sau khi đồng minh rút đi) để bốc một số thân nhân của một vài nhân vật chánh quyền sắp rơi rụng. Phi cơ này đi đâu, không ai biết rõ, nhưng hẵn họ đã đến nơi, đến chốn an toàn.

Gia đình tôi cũng không ra ngoài thông lệ đó, tức cũng loay hoay tìm lối đi. Đường bộ đi Vũng Tàu bị cắt từ sau khi Lữ Đoàn 3 Kÿ Binh không giữ được tuyến Long Thành. Đường thuỷ thì ngoài đứa em ruột quyết tâm ở lại để theo xếp chuẩn bị đánh ra Bắc thật tình tôi không còn quen ai và không dám nghĩ tới. Đường hàng không thì lại càng xa vời. Mãi về sau, tôi mới được biết văn phòng của Cố Vấn Quân Sự Hoa-Kỳ (gọi là DAO cuối cùng kiêm luôn chức vụ đại sứ cho đến 30-04-1975) có chương trình triệt thối gia đình của những quân nhân và công chức sang Phi Luật Tân. Tôi cũng nạp danh sách gia đình (vợ và năm con). Không biết vì đâu mà Mai Duy Thưởng gạt bỏ hai đứa lớn, lý rằng là trai trong hạn tuổi quân dịch. Nhiều gia đình bị trở ngại vì lẽ này đành ở lại và gánh chịu hậu quả thê thảm: chồng đi tù, vợ con đi kinh tế mới, v.v... Tôi phản đối ý đồ của Mai Duy Thưởng, từ chối ghi danh. Nhờ anh Phạm Kỳ Loan tận tình can thiệp, gia đình tôi mới được liệt kê đầy đủ vào danh sách, chờ ngày lên đường.

Chiều 23-04-1975, gia đình tôi được dặn phải có mặt trước 6:00g ở phòng chờ của cơ quan DAO trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Cùng đợt được gọi, có chị Lộc và đàn con, chị Túc và 10 cháu, với gia đình tôi (ba đứa, hai đứa được anh Nguyễn Hồng Đài đưa vào phi trường trước). Dồn tất cả trên bốn xe Jeep, chúng tôi loanh quanh các cổng phi trường nhưng không cách gì vào được. Cổng chánh từ ngỏ Cộng Hoà, Quân-cảnh không cho vào; vòng ra cổng sau từ ngã Ba chú Ía, bị rào nghiêm nhặt. Trở lại cổng chánh phi trường, yêu cầu Quân-cảnh lần nữa nhưng bị từ chối. Liên lạc với anh Khang vì anh Khang quen với tướng Không Quân Phan Phụng Tiên, chỉ huy căn cứ lúc bấy giờ. Qua máy liên lạc, anh Khang cho biết, không thể nói chuyện được với tướng Phan Phụng Tiên. Bấy giờ vô cùng thấm thía thân phận và thế thái nhân tình. Mới sáng hôm đó, khi vào phi trường, Quân-cảnh còn đứng nghiêm, chào kính và ân cần thăm hỏi. Chỉ hơn 10 tiếng đồng hồ, mà lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập” đã ban hành chặt chẽ đối với bốn chiếc xe của chúng tôi, trong khi những chiếc xe khác lại tuần tự đến cổng, tạm dừng, và sau vài câu trao đổi lại từ từ tiến vào trong trót lọt, thong thả.

Sự phân biệt đó, những ám hiệu đó mãi sau này, tôi mới hiểu. Suýt chút nữa, chúng tôi đã phải chứng kiến cái chết oan uổng của ân nhân gia đình tôi tại cổng phi trường.

Bốn chiếc xe đậu dọc ven đường, trước cổng phi trường. Và chúng tôi rất bồn chồn lo âu. Không còn biết phải làm thế nào?

Ngay lúc đó, một chiếc xe Jeep từ trong phi trường tiến ra, đến trạm kiểm soát Quân-cảnh thì dừng lại. Và Nha Sĩ Trung Tá Lâm Ngọc Châu khoan thai bước xuống. Anh thoáng nhìn về đoàn xe chúng tôi rồi tiến về phía anh Quân-cảnh đang đứng. Anh Quân-cảnh này hình như chỉ chặn đoàn xe chúng tôi, mà lần lượt khoát tay cho hàng chục xe khác vào phi trường (vẫn thủ tục cũ: xe tạm dừng, vài câu trao đổi rồi anh Quân-cảnh cho vào). Vẫn với phong thái khoan thai, anh Châu vừa tươi cười, vừa bắt tay, một tay ôm vai anh Quân-cảnh thật thân mật, thật niềm nở. Vẫn ôm vai anh Quân-cảnh, anh Châu xoay mặt vào trạm canh, buộc anh Quân-cảnh phải xoay theo. Anh Châu tiếp tục nói, nhưng tay còn lại (tay trái?) anh đưa ra sau lưng vẫy chúng tôi.

Thật ra, khi anh Châu từ trên xe bước xuống, tôi đã muốn chạy đến hỏi thăm anh, có cách nào để giúp ba gia đình gần 20 đứa trẻ vào lọt phi trường. Nhưng thấy anh nói chuyện với Quân-cảnh, trong khi có vài xe khác tiếp tục được vào, tôi không hiểu và cũng không dám hỏi. Nhưng khi thấy cánh tay ở sau lưng anh, vẫy ngoắc chỉ vào phi trường, thì chúng tôi không ngần ngại nữa. Tức khắc bốn chiếc xe cùng nổ máy, chạy thẳng vào phi trường. (Lên đến ngang anh Châu, thì nghe anh Quân-cảnh lớn tiếng, và khi qua khỏi, ngoái lại nhìn thì thấy anh Châu còn như phân trần, chưa lên xe Jeep).

Khi vào đến phòng chờ của DAO, thì bao nhiêu lo lắng khác xô dồn tới, tôi không gặp anh Châu, mặc dù nơi làm việc của anh cách đó chẳng bao xa.
Vài nét về anh Châu: anh nguyên là giáo sư, sau đi học thêm rồi thành nha sĩ. Anh gia nhập quân đội ngày nào tôi không rõ. Chỉ biết khi về làm việc ở Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận, thì có dịp nhờ cậy đến anh, sau đó mới quen anh. Anh cao lớn, khoẻ mạnh, trắng trẻo, đẹp trai, thể thao, ăn nói hoạt bát, thạo nhiều sinh ngữ, nhứt là Anh, Pháp. Vì răng bị hư nhiều, tôi được anh em giới thiệu đến Trung Tâm Nha Khoa trong phi trường Tân Sơn Nhứt, nên tôi được biết anh ở đó, vì anh là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm. Cách tiếp đãi ân cần, cách chăm sóc tận tình của quý vị nha sĩ tại trung tâm, đã phản ảnh tư cách hào hoa, lịch sự của người “Chỉ Huy Trưởng”.

Chiều hôm đó (sau này tôi được anh kể lại), anh vừa tạm giải quyết được việc tìm một chỗ trên phi cơ cho chị Châu đào nạn một cách chật vật đắng cay, mặc dù anh quen thật nhiều với Mai Duy Thưởng. Nghe rằng nhờ chị Nguyễn Hồng Đài có phương tiện khác nên bỏ trống chỗ ngồi trên phi cơ quân sự và chị Châu được sử dụng ghế trống này. Vì Trung Tâm Nha Khoa ở trong phi trường, nên anh đi lại thường, ra vào hằng ngày nên quen mặt. Không biết ai cho anh hay rằng ba gia đình chúng tôi kẹt ngoài cổng không vào được, anh đã chạy ra can thiệp bằng cách của anh — giúp đỡ ba gia đình bằng một tấm lòng, khẳng khái vì anh em, vì bè bạn không nề nguy hiểm. Anh Quân-cảnh hôm đó, có thể nóng nảy, bất kể quen biết thân sơ, có thể hành hung, hay bắn chết anh tại đó!!!

Chạy sang Hoa-Kỳ, kẹt nằm dài trên miền Bắc hai năm, mãi đến hè 1977, gia đình tôi mới lò dò dời xuống miền Nam, nheo nhóc sống trong một apartment chật hẹp (hai vợ chồng, năm đứa con). Vậy mà, từ Birmingham sang Houston, anh Châu đến với chúng tôi, từ chối mọi bạn bè quen biết khác (khá giả hơn tôi, nhà cửa nhiều tiện nghi hơn tôi). Chúng tôi chỉ trải một tấm nệm trên sàn ván để anh Châu ngủ tạm. Khi đó tôi là một “tiện sĩ” đi làm quần quật cả ngày, không có nhiều phương tiện, thì giờ để thù tiếp khoản đãi anh như tôi muốn. Nhưng anh Châu sống thoải mái ở trong hoàn cảnh “bó rọ” của gia đình tôi suốt thời gian anh thăm viếng Houston hồi cuối năm 1977.

Có một lần, nhân dịp đi ngang Birmingham, quá nửa đêm, chúng tôi đã không ngần ngại gọi anh chị Châu vì không biết nẻo đến nhà anh. Anh bảo tôi đậu xe tại cây xăng chờ, và chỉ hơn năm phút sau thì anh ra đến tận nơi dẫn chúng tôi về nhà anh, cho tắm rửa, nghỉ ngơi, v.v... Và cho đến bây giờ, các con tôi vẫn thương mến và kính trọng anh chị Châu, dù rất ít khi được gặp đủ hai ông bà. Có khi gặp việc, ghé ngang Houston, anh cũng điện thoại cho tôi, hàn huyên đôi câu, thăm hỏi ân cần. Anh rất nhiều nhiệt tâm đối với anh em. Mười mấy năm nay, tôi đều nhận được thiếp chúc năm mới và quà tặng Giáng Sinh. Tôi vốn dĩ chậm lụt, nên mỗi dịp Giáng Sinh, tiếp tục đón nhận những ân tình thắm thiết của một người bạn “tốt bụng” sẵn mang một tấm lòng vàng.

Là một nha sĩ Việt-Nam đầu tiên tốt nghiệp tại Hoa-Kỳ, anh Châu vẫn giữ nguyên phong thái của một quân nhân đầy tư cách. Trong nếp xử thế, anh giống một triết gia, hơn là một chuyên gia. Nếp sống của anh chị thật bình dị, nhàn tản, tri túc. Trong ngành Nha Khoa, anh đã giúp nhiều người bạn đến Hoa-Kỳ sau, tu nghiệp để trở thành nha sĩ. Hình như anh chỉ muốn giúp anh em, hơn là muốn bôn ba tạo dựng riêng mình một nếp sống “giàu sang” theo khả năng của anh sẵn có. Một điều đáng ghi nhận nữa, mà cũng do điều này mà tôi quý mến anh nhiều hơn: là đối với một ông thầy cũ (Bác Sĩ Nguyễn Văn Thơ), anh luôn luôn có thái độ của một người học trò thuộc thế hệ “Quân, Sư, Phụ”. Thật là cảm động, khi thấy một môn sinh thành tài, có địa vị (như anh) nhưng vẫn một niềm lễ phép đối với thầy (BS. Nguyễn Văn Thơ).

Kể từ 23-04-1975 đến hôm nay, đã sắp tròn 20 năm. Hai mươi năm tràn đầy kỷ niệm: nhục nhã vì mất nước, nhục nhã vì trốn chạy, nhọc nhằn vì cuộc sống, đắng cay vì những thiệt thua mà mình vì ngu dốt phải gánh chịu khi lưu lạc xứ người. Nhưng mỗi năm vào những ngày này, tôi sống lại những ngày đêm lo âu: không biết số phận của bầy con của chúng tôi ra sao vì chúng tôi chấp nhận mất tất cả, kể cả sinh mạng của chúng tôi, miễn bảo vệ được các con tôi được an toàn, khôn lớn, trở thành người hữu dụng. Trong đại nạn của quốc-gia, trong nguy biến của dân tộc, tôi băn khoăn cho tương lai mù mịt của năm đứa con vô tội. Ai trách tôi ích kỷ, tôi chịu. Ai trách tôi hèn yếu, tôi nhận. Vì tôi chỉ là một người cha tầm thường, bị lôi kéo trong cơn lốc vĩ đại, xoáy sụp cả một miền Nam dù lạc hậu, dù loạn ly, nhưng vẫn có tự do tương đối, nhưng vẫn trù phú gấp 10 lần miền Bắc vào thời điểm đó.

Vì các con của chúng tôi, nên cho đến bây giờ tôi vẫn nhắc nhở: nếu anh Phạm Kỳ Loan không can thiệp cho bầy con của tôi được ghi tên vào danh sách, thì liệu tôi có cách trở xoay nào khác, trong những ngày đen tối đó để đưa đàn con tôi chạy thoát? Nhất là: nếu chiều hôm đó, anh Châu (vâng, anh Lâm Ngọc Châu) không có mặt tại cổng phi trường Tân Sơn Nhứt, để điều độ cho cả ba gia đình gần 20 trẻ con, thì thật uổng tâm cơ của anh Phạm Kỳ Loan lo lắng, can thiệp, liệu ba gia đình có được tròn vẹn như hiện nay? Hay bị kẹt ở lại, rồi rơi vào vũng lầy “nghèo đói, thất học” như hàng triệu trẻ em không may mắn khác?

Khi viết những giòng này, tôi lại thấy nổi bật lên trong tâm tư của tôi, hình ảnh của Trung Tá Nha Sĩ Lâm Ngọc Châu, một mình đứng ra can thiệp, gây xao lãng, đánh lạc hướng chú tâm của anh Quân-cảnh, cho mấy chiếc xe của chúng tôi chạy tuôn vào cổng phi trường. Và tôi tự nhủ rằng: nếu phút giây nào tâm trí tôi còn linh mẫn, tôi dành (trong tâm tư chất chứa nhiều ẩn ức của tôi) một chỗ thật cao và thật đẹp cho anh Châu — một người bạn sẵn sàng lo lắng cho anh em mà không chờ kêu gọi, cáng đáng hiểm nguy mà không đắn đo. Ở cuối thế kỷ 20 này, hảo tâm như anh thật là hiếm có. Nòi hiệp sĩ Việt-Nam còn lại mấy người, thì hẵn anh là một. Hay ít nhứt anh là một quân nhân thừa phong cách hào hoa, lại mang sẵn một tấm lòng vàng.



L o n g T u y ề n
7:00g chiều, ngày 21-04-1995



12818



Image


t ô .c a n h .C Ả I .T R Ờ I
__________________________________________________________________________


Năm 1945...

Mũi xuồng vừa ghé sát cầu dừa, tôi vội vã xóc cây dầm trong khoen dây luộc, cắm sâu xuống sình để neo xuồng vào cầu, rồi phóng lên bờ, chạy băng qua khoảng đất, băng luôn qua con lộ làng tráng đá, giông tuốt vào nhà bà ngoại tôi. Vừa gặp má tôi, tôi la lớn: “Má! Con đậu rồi!”. Má tôi mừng quá đứng rưng rưng nước mắt. Bà ngoại tôi từ trong bếp đi ra, cười cười: “Cậu Tám con về trước cho cả nhà hay rồi là con làm được hai bài toán. Ai cũng hy-vọng là con đậu vào cò-le. Thôi, con xuống bến nói với ba con dọn xuồng, rồi lên rửa tay ăn cơm. Thủng thỉnh rồi kể lại cho mẹ con nghe”.

Ba tôi và tôi bơi xuồng từ Bà Đồ (trên Bình Thủy chừng hai cây số ngàn) về Rạch Gốc (cách chợ Ô Môn chừng 1½ cây số). Trời quá trưa, nên cả nhà đã ăn trước rồi. Má tôi lo dọn cơm. Thay vì chỉ có cơm với cá linh kho như ngày thường, bữa nay có ba món đặc biệt: cá sặc bướm kho tiêu, gỏi bắp chuối trộn “cơm mẽ”, và một tô canh cải trời. Tôi vừa ăn vừa ba hoa kể chuyện làm các bài trong phòng thi.

Xong ba tôi kể chuyện: sáng tưng bửng, ba tôi chở tôi bằng xe đạp từ Bà Đồ xuống Cần Thơ. Khi thi xong hai bài mãn giờ thì đã trưa, ba tôi dẫn tôi ra bến xe đò ăn cơm. Bến xe đò lúc bấy giờ còn nằm trên khúc đường Saintenoy từ “nhà giây thép” (Ty Bưu Điện sau này) xuống cầu tàu. Ba tôi gọi hai dĩa cơm sườn chan nước mắm ớt. Ăn xong thấy ngon quá, tôi hỏi nhỏ ba tôi mua thêm một dĩa. Ba tôi lắc đầu: “Đủ no rồi con!” Nghe vậy, má tôi cười buồn: “Phải biết, tôi đã đưa thêm tiền cho ba nó”.

Gỏi bắp chuối trộn cơm mẽ, chấm nước cá kho tuy ngon, nhưng không thể sánh được với tô canh cải trời mà bà ngoại tôi đã để dành. Cải trời nấu canh cá thác lác vò viên có hương vị “rất miệt vườn”, khó tìm được ở những nơi chợ búa. Quả vậy, vì từ đó cho đến bây giờ, không bao giờ tôi còn được dịp ăn một tô canh cải trời khác.

Trước 1945, thỉnh thoảng má tôi vẫn nấu canh cải trời. Cho nên bây giờ, tôi còn mường tượng nhớ cách nấu. Hôm nào má tôi đi chợ mua được cá thác lác thì má tôi sai tôi về vườn bà ngoại tôi để hái cải trời. Nói đến cải trời, chắc có nhiều người trong lứa tuổi của tôi hẵn biết. Muốn hái cải trời, thì tìm dưới mấy gốc dừa trong vườn, chắc chắn nó mọc chen trong cỏ dại chung quanh đấy, không nhiều thì ít. Lúc mới mọc, cải trời thấp vừa khỏi mặt đất, hơi khó thấy mà cũng rất ít. Muốn hái nhiều hơn, thì đi dọc theo các bờ ruộng, hay hai bên đường đất trong làng, gom hai ba rổ cũng có. Hái đọt non, màu xanh lợt gần ửng vàng, lá có lông măng ngắn như nhung. Thường thì tôi hái cải trời khi cây lên cao ngang đầu gối. Cây tuy khá già nhưng lại được nhiều đọt non. Đem về rửa thật kỹ vì lá thường đóng nhiều bụi bậm. Trong khi tôi đi hái rau, thì má tôi lo làm cá. Thác lác là loại cá rẻ tiền, ít người mua vì thịt không ngon, bởi từ vườn ra chợ cá không còn tươi. Hơn nữa là quá nhiều xương hom (xương nạng như chữ y) kho hay nấu canh đều sợ người ăn bị mắc cổ. Cá không cần đánh vảy mà chỉ cần cắt đầu rút ruột, rửa sạch. Dùng dao mỏng lưỡi lóc hai miếng thịt hai bên xương sống xong để trên “sàng gạo” hoặc vỉ tre đem phơi cho héo. Kế đó, lật ngửa miếng cá phần còn da xuống dưới, dùng muỗng nạo nhẹ lấy thịt. Nêm nếm tiêu bột, hành lá, nước mắm rồi vò viên lớn nhỏ tùy thích. Chừng hai chục con cá thì đã đủ cho một nồi canh khá lớn. Nấu nước sôi, thả những viên cá vào, chờ cho cá chín, trút rổ cải trời vào nồi. Chờ canh sôi vài dạo, nêm lại rồi nhắc nồi xuống. Canh ăn nóng càng ngon. Có điều lạ là thịt cá thác lác vốn “bở rệp”, nhưng cá thác lác vò viên thì lại dai và dòn.

Trong những bữa ăn miền quê, canh cải trời gần như là thường trực, nhưng không phải nồi canh nào cũng có cá thác lác vò viên. Mà thường thì nấu với bất cứ loại cá hay mớ tép nào vừa vớt được trong lung hay dọc theo các cống. Lung là một vũng tròn nằm gần đầu ngọn rạch, bao nhiêu cá nhỏ như cá sặc bướm, cá rằm, cá lòng tong và tép các cở bị nước rút nên tựu về đầy. Cống là mương hay kinh đào thẳng có bờ chắn ngang miệng, chỉ chừa một lổ cống bằng thân cây dừa đục bộng ruột. Cống cốt để cầm nước lại trong ruộng cho lúa đủ sức lớn, mà cũng là một nguồn lợi chung cho cả xóm sống gần đó. Nhà nào sắp tới bữa cơm mà chưa có món ăn, thì một người lấy một cái nồi đất, một cái rổ xúc (rổ lớn đường kính chừng một sải tay) đi ra cống gần nhà nhứt. Lội xuống cống, kéo một cây lục bình bỏ vào nồi để giữ cá tép xúc được khỏi nhảy ra, xong hạ nghiêng rổ xúc xuống nước đảo tròn vài vòng rồi kéo lên thế nào cũng có vài con tép chấu, tép mòng, tép đất, vài con cá trắng như cá rằm, cá he con. May mắn thì được thêm con tôm lóng, hoặc cá rô hay cá trèn. Dạo rổ xúc chừng vài chục lần thì có đủ để kho và nấu canh “cho qua một ngày”. Tất nhiên, không phải hôm nào cũng được nhiều, vì ông bà vẫn nói: “chim trời cá nước”.

Cuộc sống đồng quê vào thời của tôi, đại để là như vậy. Mùa thu 1945, Nam Bộ kháng chiến, khói lửa bừng bừng ở Hậu Giang. Bấy giờ tôi còn nhỏ, không kịp dự vào đâu, dù là nhóm thiếu nhi do anh Khưu Ngọc Tước điều khiển cho đến ngày tản cư. Khi hồi cư về được, tôi đi học lại, rồi xuống Cần Thơ vào trường Phan Thanh Giản. Từ bấy, cuộc đời trôi xuôi, không bao giờ tôi còn có dịp trở về quê ngoại nằm trong khu vực bất an. Từ bấy, không bao giờ tôi được ăn lại một tô canh cải trời! Cải trời! Sao ông bà khéo đặt cái tên khó quên cho một loại rau hoang! Không còn được ăn, nhưng vẫn nhớ canh cải trời, như nhớ cõi địa đàng ấu thơ đã bị chiếm đoạt.



L o n g T u y ề n
ngày 10 tháng 01 năm 2000

Image


12820



Image


G I Ữ .Đ Ồ N .C Ô I
Tặng Chiến-hữu Nghĩa-quân Nguyễn Văn Liêm (Hòa Lan)
__________________________________________________________________________



Đồn côi heo hút
Khi bị hãm vây, vì áp lực
Trưởng đồn trở giáo, dẫn thủ hạ đầu hàng
Rồi quay lại tấn công đồn... như thù nghịch!!

Trong đồn côi heo hút,
Còn một nghĩa quân kiên quyết
Gìn lòng son sắt, hiên ngang
Đứng giữa vùng bão táp
Giữ cao cờ chánh nghĩa
Ngạo nghễ bay vờn gió dữ đang tràn.
Đợt đợt tấn công cay nghiệt
Đồn côi hứng chịu gian nan.
Nghĩa quân trong đồn lặng lẽ
Gọi anh em trở lại vầy đoàn.
Cùng nhau chung sức
Đỡ ngăn từng lớp sóng nghiệt oan
Cờ chánh nghĩa vẫn lộng bay trong gió
Khiến đối phương chùn bước, ngỡ ngàng.


Đêm tối dần qua
Bình minh lố dạng
Đồn côi vẫn trơ trơ sau hoạn nạn
Thái dương rực rỡ chói lòa
Soi mặt trung kiên, sưởi lòng chiến sĩ
Sân ngoài dù lạnh, đã đơm hoa.



L o n g T u y ề n
Houston, ngày 25 tháng 12 năm 1993



12913



Image


t ừ .K H Ú C .
__________________________________________________________________________



của một người lính già nhân ngày 19-06-1994



Vì còn nghĩ mình là một quân nhân QLVNCH, nên vẫn thấy đau lòng với những kỷ niệm nấu nung vào những ngày cận kề 19 tháng 6.

Vì đã đứng chung hàng với những người cùng mang sáu chữ Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm, nên vẫn bâng khuâng, oằn oại tâm tư với trách nhiệm chưa tròn.

Ðất nước còn nguyên vẹn đó, nhưng vắng bóng cờ nền vàng ba nét đỏ tung bay, và tôi từ chối sắc màu của lá cờ sao vàng máu đỏ.

Dân tộc còn sống lây lất đó, nhưng gần 20 năm qua, đã im tiếng vọng hào hùng của bài “Tiếng Gọi Công Dân”. Tôi từ chối âm thanh và lời hát của Tiến Quân Ca.

Ðất nước còn đó, dân tộc đó, nhưng vắng hồn Tổ Quốc. Một mảnh nhỏ Tổ Quốc tôi mang trong đáy tim, nhưng làm sao tôi mang được quê hương theo bước đường lưu lạc ở xứ người.

Thua trận 1975, quân nhân VNCL phải chọn một con đường:

Trên cao hết là tự tử cho tròn khí tiết. Chết là anh hùng, nhưng chết là hết, trong khi đất nước còn đang chịu trăm điều nghiêng ngửa.

Thứ đến là bỏ chạy. Chạy là hèn (?!?) nếu chạy thẳng không dám quay đầu nhìn lại. Ai chạy trước? Nhứt là những người đã từng lãnh đạo, chỉ huy lại bỏ chạy trước ngày có người lên tiếng chánh thức đầu hàng? Những người chạy sau là rút lui chiến thuật (?!?) hay chỉ dùng danh từ ru ngủ, sơn phết một chuyến bôn đào không hẹn được ngày về?

Tôi đã chạy, nhưng cho đến bây giờ, tôi vẫn cuồng ngạo nghĩ rằng: Sẽ có ngày tôi trở lại. Như những người xưa...

Cam go kế tiếp là những người bỏ trốn. Can đảm thay những người không sợ chết! Can đảm thay những người không sợ hiểm nguy để chọn đường này: vì trốn là nhiệm vụ đầu tiên của quân nhân khi bị địch bắt, và không chấp nhận cho địch giam cầm.

Xưa kia ai đã ngâm nga: Ði là chết trong lòng một ít. Dưới chế độ Hà-Nội trong khoảng 15 năm (1975-1990) những người ra đi chỉ cầm lỏng cơ may: “Chín mất, một còn”. Bao nhiêu người đã vượt biên? Mà có bao nhiêu người đến bến? Ðại dương là mồ oan khiên chôn hàng triệu người đi tìm tự do, vùi lấp bao nhiêu hy-vọng, thảm cảnh, hận thù?

Bất hạnh nhất là những quân nhân phải đi trình diện, bị kẻ thù bắt giữ và cầm tù. Ðể không được xem là tù binh, mà bị xem là “kẻ thù của dân tộc cần được tập trung và bảo vệ. Trong những anh hùng sa cơ đó, ngạo nghễ thay một Nguyễn Lô, một Giang Hoài Bửu đã đi vào huyền thoại”.

Ðau khổ tột cùng vì những quân nhân cải tạo bị bó tay không còn đùm bọc được vợ con.

Những người vợ của quân nhân VNCH đã trăm đắng ngàn cay để lo thăm nuôi chồng bị giam cầm triền miên không biết ngày nào được thả. Và trời cao không thấu được nỗi trái ngang của những mệnh phụ, phải xoay trở trong đói rách để giữ tròn danh tiết!!!

Chết thì thôi, nếu còn sống, quân nhân VHCN còn phải suy gẫm về ngày Quân Lực vì 19-06-1965 là ngày QLVNCH nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc-gia. Trước đó (01-11-1963), dù không chánh thức nhận lãnh, nhưng thực sự QLVNCH vẫn gánh rất nhiều trách nhiệm về những biến cố xảy ra. Sau đó, hiển nhiên vận mệnh quốc-gia Việt-Nam đã nằm trong tay hai tướng lãnh: một bỏ trốn, một đầu hàng!!!

Khi nhập ngũ, thì bị “nhồi sọ” rằng: Quân nhân không làm chánh trị. Khi các cuộc binh biến xảy ra, các bậc đàn anh tiếp tục đe răn: Quân nhân không được làm chánh trị, mà chỉ cần tuân hành mệnh lệnh mà thôi.

Quả nhiên, Ðệ Nhị Cộng Hoà chỉ có những-Cộng sự viên trung thành. Tinh thần phục tòng thượng cấp đó, làm sao đào luyện được một vài tướng lãnh có tài thao lược, chuyển xoay thế cuộc. Rồi khi thất cơ chạy ra hải ngoại, lại cũng chính các bậc đàn anh trên đây vận động tập họp quân nhân, hô hào, đề xướng, chủ trương nhiều đường cứu nước?!?

Hẳn các anh lại muốn nắm quyền lãnh đạo như trước đây? Hoặc các anh đã thấy rõ rằng ở tự các anh không thể làm được việc gì cả, nếu không có khối quân nhân tận tụy phục vụ quốc-gia, mà các anh được nắm quyên lãnh đạo trong khoảng gần 12 năm nghiêng ngửa đó.

Sao các anh không ý thức rằng ở thời kỳ lãnh đạo của các anh đã thật sự qua rồi, Các anh chỉ còn đủ thời giờ để suy gẫm về phần trách nhiệm không tròn, khi thời cơ đến trong tầm tay quyền lực.

Tình thế chung hiện nay đã biến chuyển, nên cuộc đấu tranh chống lại chế độ Hà-Nội đã mang hình thức khác.

Những quân nhân VNCH đang sống tại các nước tự do, chưa giải ngũ, quyết dự phần vào cuộc đấu tranh chánh đáng này.

Không còn vũ khí trong tay, không còn đơn vị, không còn tiền pháo hậu xung, trực thăng vận, không yểm, mà chỉ còn có một tấm lòng, quân nhân VNCH đành phải dùng phương tiện khác.

Không được huấn luyện về chánh trị, nhưng nếu đối đầu với một chế độ độc tài, hại dân hại nước, mà được gọi là làm chánh trị, thì một số quân nhân hải ngoại đang tiếp tục đấu tranh chống chế độ Hà-Nội, xin nhận làm chánh trị.

Chỉ vì thấy rằng trách nhiệm đối với đất nước chưa tròn.

Với rất nhiều thiện chí, với rất nhiều nhẫn nại, quân nhân VNCH còn một ước vọng thiết tha: mang quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ trở về cho Việt-Nam.

Dưới bóng quốc kỳ này, được đứng hát bài “Tiếng Gọi Công Dân” một lần, tại một công trường nào đó, ở quê hương. Ðể chứng minh sự cuồng ngạo riêng tư, như người xưa đã:

Thầm hẹn ngày trở lại
Dù tự biết mình là sương bám cỏ may


Ðể khỏi oằn đau, mỗi khi tự hỏi:
Người là ai?
Ðang làm gì ở đây?



L o n g T u y ề n
Thứ Tư 12:30 giờ trưa,15-06-1994



21645



Image


T H Ư Ơ N G .N H Ớ .A I ?
__________________________________________________________________________



mây trắng giăng theo những luống dài
mù loang pha nhạt nắng ban mai
sông khô uốn lượn, phơi bờ cát
mờ mịt khung trời, thương nhớ ai?



L o n g T u y ề n
10:05 sáng, ngày 01 tháng 08 năm 2004
trên phi cơ Continental #1443 đi Cali




23794 top -
ĐẾM BƯỚC LƯU VONG
1, 2, 3
_______________________________________________
Đêm Xuân - thơ - Phiến Băng _______________________________________________

Image

Dưới ánh trăng thu lẻ bóng hình
Ta ngồi đợi mãi lúc bình minh
Chờ cơn gió nhẹ mơn ngàn nắng
Tự hát ru mình mộng nhân sinh

xem tiếp...

_______________________________________________
Màu Mắt Mùa Xuân - văn - trân _______________________________________________

Image

Ðôi khi, thời tiết khí trời đem đến cho tôi những ngày sầu mang mang, chỉ thấy trống vắng và lâng lâng khi nhìn mầu nắng quái thoi thóp lấp lánh trong một vòm cây. Vài con chim về ngủ sớm trên cành, và những gợn gió nhẹ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Cánh Gió Mùa Xuân - ghi âm - Ngọc Thể _______________________________________________

Image

Cánh gió mùa xuân bát ngát trời xanh
bên trời yêu thương ngày qua êm ái
nghiêng nghiêng chiếc nón tà áo em bay
trên những đường hoa chiều xuân chan chứa
hồn nhiên em cười ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Hoa Xuân - ảnh - violetdehue _______________________________________________

Image

xuân! hoa là tình tôi
đua nở cùng ai cùng quyến luyến mọi nơi
có một bầy thôn nữ nhìn hoa
chúc cho xuân vui vẻ thái hòa
có một vài tóc trắng thầm mơ
ước cho hoa nở mãi không già...
Phạm Duy

xem tiếp...