THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image


T Ử .S Ĩ .k h ô n g .l ư u .v o n g .
__________________________________________________________________________


Lời mở đầu: Sáng thứ bảy 27 tháng 06, 1987, chiến hữu Nguyễn Sơn Tòng đã tổ chức trọng thể lễ đặt vòng hoa tuởng niệm tại Ðài Chiến Sĩ Trận Vong Việt Nam Cộng Hòa và Ðồng Minh tọa lạc góc đường Basin và Iberville, New Orleans. Sau đó, là cuộc họp báo và dạ tiệc vào buổi tối. Sáng hôm sau, chủ nhựt 28 tháng 06 năm 1987, chiến hữu Tòng tở chức cuộc diễn hành quy mô kỷ niệm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại trên đường Canal tại New Orleans, Louisiana.

Thuở ấy, những oằn oại này đã hành hạ, gây rất nhiều xót đau cho riêng hắn, nhưng không biết chia xẻ với ai? Mười chín năm qua rồi, vấn đề vẫn ám ảnh tâm tư hắn không rứt được. Vậy xin chia sẻ với những chiến hữu hiện vẫn cưu mang u uất của những người lính thua trận, đang còn đếm bước lưu vong, vào những ngày Quân Lực 19 tháng 06... ở hải ngoại.



Dưới ánh nắng rạng rỡ của buổi sáng mùa hè, trong một góc công viên của thành phố New-Orleans, hắn đứng với anh em trong toán thủ kỳ. Dưới rặng cờ bay, hắn thấy lưa thưa chen lẫn, vài lá cờ “băng sao” của Hoa Kỳ, còn lại toàn là những lá quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ lộng lẫy tung bay trong gió.

Hắn mĩm cười một mình khi nghĩ đến việc hắn dùng chữ nét mà không dùng chữ sọc? Chỉ vì hắn không thích hai cái sọc dưa nổi lên hai bên thân con cá thia thia vừa thua độ; và hình ảnh xa xưa, khi hắn thấy mấy bầy cá chốt sọc tranh nhau bám mồi ... nổi lêu bêu trên mặt nước.

Thế nên, đối với hắn, chữ “sọc” gây ấn tượng xấu, hắn bỏ chữ này mà dùng chữ nét (vì hắn chưa tìm được chữ nào hay hơn). Chữ nét có âm thanh gợi cảm và hàm xúc như nét oai hùng, nét hiên ngang, nét quật cường, khi hắn nhắc đến lá quốc kỳ.

Từ trên loa, tiếng của xướng ngôn viên vang lên:
- Thưa toàn thể quý vị, chương trình buỗi lễ tưởng niệm bắt đầu.

Tiếp theo, là lịnh của vị chỉ huy tổng quát:
- Tất cả theo lịnh tôi.
- Nghiêm!

Hắn tự động trở lại thế nghiêm của một quân nhân trong toán thủ kỳ. Rồi chương trình tiếp tục, hắn say sưa hát Quốc Ca VNCH theo anh em chung quanh:
Này công dân ơi! Ðứng lên đáp lời sông núi
Ðồng lòng cùng đi, hi sinh tiếc gì thân sống
...
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng...


Bài quốc ca vừa ngưng, thì những khẩu lệnh khác tiếp tục... cho đến:
-Phút mặc niệm bắt đầu.

Trong thế nghiêm đứng sẵn, hắn lặng lẽ cúi đầu. Từ chiếc kèn đồng trong ban quân nhạc, những cung bậc đầu của bài Chiêu Hồn Tử Sĩ thê thiết vang lên.

Chợt hắn nghe toàn thân nổi gai, rồi thoát cái thành nhẹ nhàng. Hắn cảm như không còn đứng chỗ hắn đang đứng chung với toán thủ kỳ, mà hắn đã lạc vào một khung cảnh khác: một chỗ nào đó trong không gian không gần lắm, không xa lắm. Ðủ nhìn thấy rõ ràng đám đông nghiêm chỉnh đứng lặng yên nghe bản nhạc chiêu hồn, trong đó có một hình hài giống hắn đang cúi đầu dưới bóng cờ bay.

Quanh hắn có nhiều người, mờ mờ nhân ảnh, không thể nhận rõ được là ai. Mường tượng tất cả đều là lính. Ðủ sắc phục, từ áo hoa dù cho đến da báo, từ màu xanh thẩm lá rừng đến đồng phục đen của nghĩa quân hồi 12 năm trước. Tất cả đều đứng yên lặng lẽ. Gần bên hắn là một quân nhân còn trẻ có vẻ mệt mỏi, vai hơi “khòm”, ngồi trên một tảng đá, gác súng ngang hai gối? Ðứng cạnh đấy là một cụ già tóc bạc, da dẻ hồng hào, ước chừng non trăm tuổi, như già hơn 4000 năm, nhưng rất quắc thước, dù dáng dấp khoan thai, trông thật hiên ngang hùng dũng. Trong khi chung quanh đều mờ mờ nhân ảnh, thì khuôn mặt cụ như tỏa hào quang từ đôi mắt sáng rực uy nghi. Bộ râu bạc trắng có hình thái đặc biệt khiến hắn nghĩ đên bộ râu rồng. Liếc nhìn ông cụ, hắn thấy ngợp ở tim, máu rần trong mạch. Hắn thấy có một ràng buộc nào đó, một liên hệ thân thiết nào đó, giữa ông cụ và khối đông mờ mờ nhân ảnh kia.

Kèn chiêu hồn vẫn âm trầm thê thiết.

Thời gian chợt dừng lại.

Cụ già râu rồng đứng cạnh vẫn uy nghi đứng lặng yên. Quân nhân ngồi bên hắn chợt thở dài! Bâng khuâng, hắn quay nhìn anh lính trẻ trông quen quen như đã gặp nhiều lần đâu đó, và chờ đợi lắng nghe. Trong thế bất động, anh ta chậm rãi: “Nghiệp duyên thật là nặng! Chỉ một tiếng kèn đồng trổi lên, là xa hằng vạn dặm cũng phải nương theo âm hưởng đến đây! Buồn thay! Những người đang sống đứng kia, liệu có trước sau như một, hiểu rõ để hoàn tất việc mình làm!”

Hắn băn khoăn: “Tại sao vậy?”

Vẫn chậm rãi: “Vì bao năm nay, vào mùa này, là quân nhân Việt Nam hải ngoại luôn nhớ lo vinh danh chiến sĩ QLVNCH. Ðây là một hành động cần thiết, nên làm; việc vinh danh xem như bổn phận tối thiểu của người còn đối với người đã khuất. Như thế là tạm đủ cho người sống yên lòng. Bởi ai cũng biết rằng “danh nghĩa tử sĩ QLVNCH” được mạ vàng bao nhiêu năm nay, xưng tụng rất nhiều mà chẳng mấy ai theo gương! Tôn vinh tử sĩ anh hùng là việc rất dễ, nên nhiều người thích làm. Theo gương tử sĩ là chuyện quá khó, nên ít người dám làm! Trong lớp người mà hào khí bốc ngang mây kia, mấy ai đã dám tận trung cùng đất nước?”

Hắn cay cú: “Ðâu phải liều chết, thành tử sĩ, mới thật tâm yêu Quân Ðội, yêu quê hương Việt Nam? Vì chết hết, thì còn ai để gánh chịu lao nhục vì thua trận mất nước? Hơn nữa, còn bao nhiêu việc người sống phải làm, tạm thời ở đây, trong ước vọng có ngày hiên ngang ngẩng mặt trở về đặt chân lại trên thềm đất mẹ?”

Vẫn nhẹ nhàng: “Phải! Còn rất nhiều việc đáng làm ở hải ngoại! Như bảo vệ quốc thiều và quốc ca tồn tại trong lòng dân Việt lưu vong. Như lo vận động cho lá quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ tung bay trên các thành phố hải ngoại trong khi chờ đợi ngày mang về cho quê hương. Như có mặt diễn hành chung với cựu quân nhân Hoa kỳ để nhắn với chế độ Hà Nội rằng: Chúng ta vẫn còn đây. Và cuộc chiến còn tiếp tục! Hẳn chưa hết đâu, rồi nay mai, sẽ còn toan dựng tượng tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa khi thuận tiện!”.

Hắn bực dọc: “Như vậy chưa đủ sao? Trong khắp cõi tạm dung đầy ràng buộc, với phương tiện hạn chế của những chiến binh còn tâm huyết đang tứ tán khắp phương trời, chỉ ước mong làm được bấy nhiêu!”

Vẫn ung dung: “Ðúng là chưa đủ. Vì hằng năm, mỗi khi thuận tiện, nhứt là vào dịp như thế này, đem quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ, biểu dương trong thành phố, dù trên mặt đất, có khi còn được kéo bay khoe sắc trên trời; rực rỡ đó, nhưng chưa đem lại chút hi vọng gì cho dân Việt Nam ở quốc nội? Vì họp nhau đi diễn hành ở đây,oai phong đó, nhưng chưa lay chuyển được gì chế độ bạo tàn đang áp bức nhân dân Việt Nam luôn cả hai miền Nam Bắc. Nghĩa là tuy có làm nhiều, nhưng vẫn chưa đủ! Vinh danh tử sĩ Việt Nam ở đây thì... Hỡi ôi! “những kẻ đã trốn chạy” có bổn phận phải tôn vinh những anh hùng tử sĩ đã hi sinh cho chánh nghĩa quốc gia, để tự nhắc nhở tránh nhiệm của chính mình!

- Tại sao vậy?

- Còn hỏi tại sao nữa ư? Vì người Việt Nam mất nước lưu vong, nhưng chánh nghĩa quốc gia Việt Nam không lưu vong, quốc kỳ và quốc ca VNCH không lưu vong mà vẫn nương theo hồn thiêng sông núi ở quê nhà! Bị cấp lãnh đạo phản bội ở thượng tầng, một thành phần của quân lực VNVH thua trận đành lưu vong, nhưng anh hùng tử sĩ Việt Nam không lưu vong, mà đang ở lại chịu đòn thù của giặc: mồ mã ở các nghĩa trang bị san bằng hay đào xới ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, đặc biệt tượng Tiếc Thương bị kéo đổ. Tuy nhiên, chế độ Hà Nội dù bạo tàn bao nhiêu cũng chỉ phá được mồ, đập được tượng, cốt hành hạ tinh thần người sống gồm thân nhân và cô nhi quả phụ của chiến binh; chúng hoàn toàn không có khả năng phát vãng lưu đày anh hồn tử sĩ của QLVNCH.

Dựng tượng đài ở hải ngoại để tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam đã hi sinh để bảo vệ Miền Nam Việt Nam từ 1945 đến 1975? Ý niệm này rất đúng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Một là nhắc nhở chế độ Hà Nội rằng anh linh tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa bất diệt, dù xương cốt không yên, mồ mả đã bị chúng đào xới; hai là quân nhân QLVNCH ở hải ngoại còn tiếp tục cuộc chiến dưới hình thức khác.” Vì nhu cầu “tinh thần” của người đang sống ở hải ngoại, thì dựng tượng đài tưởng niệm tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đừng hàm ý đương nhiên lôi kéo “tử sĩ lưu vong theo tượng đài”.Xin quí vị để anh hùng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa “được yên nghỉ” trong lòng đất Mẹ. Hằng năm làm lễ tưởng niệm tử sĩ vài lần là tạm đủ.

Dù hùng tráng bao nhiêu, huy hoàng bao nhiêu, đài tưởng niệm tử sĩ Việt Nam xây ở hải ngoại, không phải là điểm tựa nương lý tưởng và vĩnh cữu cho những hương hồn các anh hùng đã chết trên chiến trường Việt Nam, vùi thây trong lòng đất mẹ Việt Nam. Nếu xương máu tử sĩ Việt Nam hi sinh để tô bồi bờ cõi; thì anh linh tử sĩ cũng nương nhập và tăng trợ Hồn Thiêng Sông Núi Việt Nam, ngay trên lãnh thổ Việt Nam! Vả lại, từ khi trốn chạy, các anh đã bỏ lại rất nhiều tử sĩ ở các nghĩa trang trong nước, đặc biệt gần hai vạn ngôi mồ (16 ngàn?) quanh Nghĩa Dũng Ðài ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà bao nhiêu năm qua. Bây giờ, có nhu cầu tinh thần, thì các anh phấn khởi muốn xây tượng đài tử sĩ lên, ở ngoài này. Nhưng liệu rồi đây, sẽ có ai tới lui chăm sóÙc khi nhu cầu mời gọi đồng bào đóng góp qua rồi? Còn có ai tới lui bảo vệ cho khỏi cảnh hoang tàn vì bị lãng quên? hay bị kẻ thù mượn tay người ngoài phá phách?

Tâất nhiên, rất nên dựng những kỳ đài ở hải ngoại tượng trưng hồn Việt bất diệt. Cũng nên dựng những tượng đài, làm chứng tích gượng gạo cho nghĩa đồng minh và hợp thức hóa muộn màng tình chiến hữu Việt Mỹ từng đứng chung chiến tuyến đối đầu với Hà Nội suốt cuộc chiến dài. Ðồng thời, cũng tượng trưng muộn màng cho niềm kết giao giữa công dân Mỹ Việt đang sống trên đất nước này, khi người Việt lưu vong được chính thức nhìn nhận, thành công và tích cực đóng góp sau thời gian hội nhập vào xứ sở chấp dung.

Nhưng cũng mong những người có lòng ở hải ngoại, khi nhắùc đến tử sĩ Việt Nam, cũng nên thiết thực nghĩ đến những nấm mồ của họ đang nằm trong các nghĩa trang quân đội ở quê nhà. Ðồng thời cũng nên nhắc và nghĩ đến những nấm mồ vô danh rải rác khắp 4 vùng chiến thuật. Hiện nay, khi “nhắc đến danh nghĩa” của họ. Xin đừng quên họ. Chừng nào quê Việt thoát ách cai trị của giặc cờ đỏ, dân Việt được no ấm tự do, [i]bấy giờ quí vị hãy lo dựng những tượng đài trên đất nước Việt Nam, bằng công lao của người dân Viêt Nam, để tưởng niệm anh hồn tử sĩ QLVNCH, từng hi sinh cho Tổ quốc Việt Nam![/b]

Bấy giờ, cụ già râu rồng mới lên tiếng: “Hãy nhớ nhập tâm rằng Hồn Thiêng Sông Núi là chỗ tựa nương vĩnh cữu của anh linh tử sĩ sống vì Dân, chết vì Nước. Hãy nhớ nhập tâm rằng Giòng Dỏi Tiên Long Muôn Ðời Dung Thân Trên Ðất Việt”. Cụ quay lại anh lính trẻ đang ngồi gác súng trên đôi gối: “Giờ đây, ta về Phong Châu. Còn ngươi! Ngươi hãy trở lại với gần hai vạn anh hùng tử sĩ còn nằm quanh Nghĩa Dũng Ðài ở Biên Hòa.”

Thảng thốt, không gian mờ nhạt và mọi sự chung quanh tan biến.

Thời gian lại xuôi giòng.


- Nghiêm!

Quân nhạc trổi lên.

Hắn thấy hắn đang đứng chung với toán thủ kỳ, không võ trang, nghiêm chỉnh trong hàng, dưới nắng vàng, giữa công viên rợp bóng cờ vàng ba nét đỏ của Việt Nam Cộng Hoà, trong thành phố New Orleans, Louisiana, trưa thứ bảy 27 tháng 06 năm 1987. Hắn biết hắn vừa qua một cơn mơ trong thế ngủ đứng. Thốt nhiên, hình ảnh chung quanh hắn thành nhòe nhoẹt, vì nước mắt hắn tràn đầy!!!



L o n g T u y ề n


Ghi vội giữa đêm thứ bảy 27 tháng 06 năm 1987
Chép lại xong ngày 30 tháng 05 năm 2003
Houston ngày 21 tháng 05 năm 2006



24687



Image


N Ế U .C Ò N .K Ị P
Thân gởi chiến hữu Nguyễn Sơ Ðông
27-08-2006
__________________________________________________________________________



Có người hỏi: Ðã về thăm quê Việt?
Từng đáp rằng: Chưa thấy thuận trong lòng!
Dù rời bỏ quê hương xa biền biệt!
Vẫn đầy tim nỗi thương nhớ không cùng!

Mắt tràn lệ khi khơi sầu xa xứ!
Ba mươi năm thừa, uất hận chưa vơi.
Vì đất nước còn lầm than khốn khó,
Do bạo quyền gieo tội ác đầy trời.

Nhớ quay quắt cầu Ô Môn hai nhịp!
Nhớ trường xưa sáu lớp ở đầu làng!
Ngày hai buổi, tuổi thơ đầy mộng đẹp!
Tuần năm ngày, chưa biết tiếc thời gian.

Giặc chiếm đất, không cho đào thêm huyệt.
Nên mồ cha cạnh lộ xóm Bà Ðồ!
Còn mồ mẹ nằm bờ kinh Vạn Lịch!
Mồ mẹ cha ngăn cách đến bao giờ?

Nặng nhớ thương, sao không về thăm lại?
- Vì năm xưa, đất nước bị xâm lăng!
Không chấp nhận bạo quyền, dù chiến bại!
Thà ra đi, mang nỗi “nhục tan hàng”!

Không chấp nhận cờ sao vàng nền máu,
Không chịu nhìn ác quỷ mượn hình người.
Ðành xa xứ ôm trọn lòng nung nấu,
Nỗi oan cừu hơn nửa kiếp chưa nguôi!

Sẽ có ngày, tôi trở về quê Việt:
Khi quê hương lộng lẫy bóng cờ vàng!
Nếu còn kịp, cười vui không hối tiếc:
Thấy toàn dân thoát khỏi ách tham tàn.



L o n g T u y ề n
10:30 sáng, ngày 24 tháng 03 năm 2006



25446



Image


l ờ i .t ừ .t ạ .m ù a .T h u
__________________________________________________________________________


Nhân chuyến đi họp mặt với anh em ở New Orleans ngày 31 tháng 08 năm 1986, tôi tình cờ được chứng kiến một cuộc chạy đường trường gồm mấy ngàn người tham dự. Gặp đoàn người chạy từ sau cuối, anh Trương Minh Ðức “mới quen mà đã thân thiết từ lâu rồi” lái xe chầm chậm thuận chiều, chạy theo lane giữa, dưới sự hướng dẫn của cảnh sát đậu xe chớp đèn, bảo vệ đội điền kinh đông đảo; tôi có dịp nhìn thấy đủ thành phần dự cuộc: nam nữ, trắng vàng, đen đỏ. Hẵn đủ thành phần xã hội thấp cao; đủ cỡ tuổi tác từ 12, 15 đến 60, 70 cũng có.

Nhìn những người dự cuộc, tôi thấy ai nấy đều thở mạnh, hít hơi dài; áo quần đẫm mồ hôi vì cuộc đua bắt đầu khá lâu rồi. Có người chạy còn đều bước, có người đã lơi chân, có người chỉ còn đi mau. Sự hơn kém đã hiện ra trải dài trên khoảng đường gần 3 dậm. Và khi vào khu Superdome, thì tôi chỉ còn thấy 5, 6 người đang dẻo bước bon chân trong toán dẫn đầu.

Hình ảnh ấy lảng vảng trong tôi từ giờ phút đó. Ðộng cơ nào thúc đẩy mấy ngàn người tranh đua náo nức trong buổi sáng còn sương mù phủ mờ thành phố? Chắc chắn là “có cái giải gì” đằng phía trước, hoặc nhiều giải cũng nên! Những lớp tráng niên, thanh niên, thiếu niên còn gân cốt, còn dai sức thì cố gắng để đua chen hầu tranh đạt. Hoặc giả có những người khiêm tốn hơn, chỉ mong đến cho tới mức là toại nguyện, tự mình chứng minh rằng mình còn có đủ khả năng chạy trọn đoạn đường ấn định, cốt tạo cho riêng mình một chút tự tin nào đó.

Thế còn những người lớn tuổi dự cuộc chạy này? Nguyên nhân nào đã lôi kéo họ vào cuộc tranh đua, mà họ biết chắc chắn là không bao giờ họ còn có cơ hội để thắng cuộc, rồi hân hoan tươi cười rạng rỡ lúc lãnh giải. Chắc chắn những người cao tuổi đó hiểu rõ ràng rằng trong mọi cuộc đua chen — nhứt là trong giới thể thao — luật đào thải luôn luôn khắt khe, quyết liệt, không tình cảm. Quyền lợi còn nhỏ thì cuộc đua chen chưa gay cấn; quyền lợi càng to thì cuộc tranh giành càng sắt máu, thiếu tình người!

Tôi miên man nghĩ rằng: những người cao niên có mặt trong cuộc chạy đường trường hôm đó có nhiều lý do tham dự, dù không “ăn được cái giải gì”. Có thể một số cụ ông cụ bà đã nghe theo lời bác sĩ, tập chạy để chữa trị một căn bịnh kinh niên, thì nhân có chuyến chạy chung, tháp tùng một khoảng cho vui đoạn đường, rồi đến đâu hay đến đấy, có thể bỏ cuộc bất cứ lúc nào. Hoặc giả các cụ muốn thử lại một lần, chen vào khối đông, nhờ “cái trớn hào hứng” chung quanh để lại một lần “đến nơi đến chốn”, như ngày xưa xa xôi các cụ đã từng trẻ, đã hăng say, thừa phong độ làm sôi nổi một cuộc đua, hay đã thắng vẻ vang hồi đôi ba mươi năm về trước. Cũng có thể đơn giản hơn: các cụ dự cuộc để khuyến khích con cháu, nâng tinh thần chúng đang hăng hái tham gia. Sự có mặt của các cụ quan trọng cho đàn con cháu có thừa háo hức tranh đua, nhưng còn cần khuyến khích. Và trong chuyến chạy theo cuộc đua này, các cụ chắc chắn rằng sau đó mình sẽ được trở về nhà bình yên, dù nơi đó có tiếng cười rộn rã của trẻ thơ, dù nơi đó có ánh mắt trìu mến của cháu con, hoặc sự săn sóc ân cần của người bạn già ở cuối đoạn đường đời dài dằng dặc, một đoạn đường dù êm thấm hay chông gai, dù ấm cúng hay quạnh hiu, các cụ vẫn không đành lòng chối bỏ.

Sở dĩ tôi đã ghi rằng: “các cụ chắc chắn rằng sau đó mình sẽ được trở về nhà bình yên”, vì tôi liên tưởng đến vài chuyện xưa, trong đó có những cụ già khi rời nhà theo người trẻ, chưa chắc được trở về nhà bình yên.

Trước hết cách đây chừng 30 năm, khi đọc chuyện xứ lạ, thấy kể rằng: một bộ lạc ở một quần đảo Nam Thái Bình Dương, cứ mỗi năm đưa những người già, kể cả cha mẹ họ, vào rừng. Họ ép các cụ già leo lên cây, rồi họ xúm lại rung gốc cây trong một vài giờ. Mãn hạn mà cụ nào còn đeo dính trên cành, thì họ đem về tiếp tục nuôi cho đến năm sau, vì cụ còn khỏe mạnh. Nếu cụ nào kém sức, tuột tay, rơi xuống đất chết đi, thì họ đem chôn như chôn một người yếu đuối, sống không ích lợi gì chỉ tốn công nuôi nấng. Thời đó, vì còn trẻ, tôi đã cười khan, cho đấy là một phong tục lạ, nhưng vẫn cho đó là một phong tục của một bộ lạc thiểu số, lạc hậu sơ khai, gồm những đứa con không biết thương cha mẹ, và những người trẻ man rợ, không biết thương xót người già nua, thiếu hẵn Tình Người.

Lại nhớ hồi còn thơ ấu, trong một bài tập đọc, kể rằng: “Thuở xưa, Nguyên Cốc theo cha đẩy xe đưa ông nội vào núi. Vào đến chơn núi, cha Nguyên Cốc bỏ cả xe lẫn người ở đấy, ra về. Ðến chiều, thấy Nguyên Cốc lịch kịch kéo chiếc xe không vào sân. Người cha hỏi: Con đem xe này về làm chi? Nguyên Cốc thưa: Ðể mai sau, khi cha già yếu, con cũng dùng xe này đưa cha vào núi, như cha đưa ông nội sáng nay vậy.” Cha Nguyên Cốc nghe vậy, bừng tỉnh và hối hận, bèn trở vào núi đón thân phụ về nhà, lo cúc cung phụng dưỡng.

Hồi đó, tôi đã mủi lòng khóc sụt sùi khi nghe chuyện người cha già nua bị đứa con bất hiếu đem bỏ vào chân núi; và cũng rất thương Nguyên Cốc đã ngây thơ tưởng việc cha làm là đúng, dốc chí noi theo. May mà cha Nguyên Cốc còn có lương tri, kịp nghe và suy gẫm lời chân thật của trẻ thơ, nên khỏi trái đạo làm con đối với cha già.

Năm 1975, khi chạy lạc lên Wisconsin và nằm liều trên đó hai năm, tôi có thấy một bà cụ người Mỹ sống cô đơn, chiều chiều ra sân quét lá gom vào bao rác một cách âm thầm lặng lẽ. Thỉnh thoảng thấy vợ chồng con cái một người Mỹ đến thăm. Ít lâu sau, thấy cặp vợ chồng này đến đón bà cụ đi — sau này được biết là họ đem bà cụ về ở chung cho ấm cúng. Và vài tuần trôi qua thì nhà đổi chủ: họ đã khuyến khích bà cụ bán ngôi nhà! Bẳng đi một thời gian, khi hỏi thăm lại thì vị mục sư trong họ đạo gần đấy cho biết: bà cụ đã được vợ chồng người cháu đưa vào nursing home để cho có người chuyên môn chăm sóc!!!

Về sau, khi di chuyển xuống vùng nắng ấm này, thì được biết thêm rằng: những chuyện như thế vẫn thường xảy ra trên toàn xứ Mỹ. Nghĩ rộng ra: có lẽ ở khắp nơi nào có loài người, thì có chuyện lấn chen, lớp sau đùa lớp trước, dưới những hình thức có lúc âm thầm, có lúc lộ liễu, có khi hòa huởn, có khi quyết liệt; có khi được bao che bằng tình nghĩa, có khi trắng trợn gần như bất nhơn!

Nguyên nhân nào đưa đến sự lấn chen ráo riết như vậy? Có phải chăng vì người già choáng chỗ, không chịu lui bước cho tuổi trẻ vươn lên? Có thể là như vậy, và cũng vì không có lối thoát nên sinh ra có những lấn chen tàn khốc ở trong một xã hội thiếu tình người như ở đây: hoặc âm thầm nhưng cũng không kém quyết liệt; hoặc dịu dàng hơn một chút nhưng vẫn đủ mức gay go, dù ở một quốc-gia thấm nhuần văn hiến, chứa đọng đủ đầy tình nghĩa.

Phải. Ở đây, trong xã hội văn minh kỷ thuật và đầy đủ vật chất này, lớp trẻ không phải tranh với người già vì manh áo chén cơm, nhưng vẫn lấn chen vì người già che khuất bóng mặt trời của họ, đang đè lên lưng họ. Một mặt thì người già làm việc lâu năm, bền vững giữ chỗ tốt, chắn mất lối thăng tiến của lứa trẻ! Phải cho người già nghỉ đúng hạn hay sớm hơn để cho người trẻ thay điền vào chỗ khuyết. Khổ một nỗi, cho người già nghỉ việc nhiều quá, số người đóng thuế ít đi, số người lãnh hưu bổng tăng lên, trở thành gánh nặng cho lớp trẻ phải làm việc đóng thuế nuôi người hưu trí. Theo thống kê thì với đà hiện tại, đến năm 2000, trung bình bốn, năm người làm việc phải nuôi một người hưu trí. Y khoa ngày càng tân kỳ, người già càng lâu chết, lớp trẻ càng gánh nặng, nên tỏ vẻ không bằng lòng.

Có những biện pháp đang được nghiên cứu tăng tuổi hưu trí lên 67 thay vì 65 như hiện tại (có chỗ đề nghị 70 thay vì 67), nhưng e cũng trở lại tình trạng cũ. Người đóng thuế có tăng thêm, nhưng những chỗ đứng, những việc làm trong thị trường nhân lực càng bị người già choáng giữ. Biện pháp mà tuổi trẻ có vẻ ưa nhứt là: tuổi hồi hưu được ấn định thấp xuống, và khi người lớn tuổi đáo hạn hồi hưu, quí vị nên nghỉ việc chừng một, hai năm, rồi mời quý vị theo ông bà là vừa đẹp. Nghĩa là quí vị đóng góp cho quốc-gia dân tộc đúng mức, quí vị chịu nhường chỗ cho lớp trẻ đúng lúc, và quí vị không thành gánh nặng cho ngân sách hưu bổng, không bắt lớp trẻ đang cần chỗ đứng phải cưu mang lâu quá.

Xã hội mà tôi đang đếm bước lưu vong là như vậy. Còn ở quê hương đang đau khổ của tôi, thì người già đang sống héo mòn, chờ ngày tàn lụn. Vâng, chờ tàn lụn như ngọn đèn hắt hiu trong đêm chờ sáng: chờ con đang chịu đọa đày trong lao tù, chờ con đang chạy ra xứ người sống tha phương cầu thực, chờ cái chết cận kề mà chưa dứt được với rất nhiều đau thương của cuộc đời trong một xã hội nghèo đói và bó buộc.

Nhưng dù sao, cho đến tháng Tư 1975, ở đó, vì thấm nhuần một nền giáo dục Ðông phương, Khổng Mạnh hay Việt nho, đã hơn 4,000 năm nên có ý niệm “Kính lão đắc thọ” theo truyền thống. Cho đến lũ mất dạy hay côn đồ vẫn còn biết trọng nễ người tuổi tác. Ðặc biệt trong thời khói lửa 1939-1975, tuổi trẻ đối với tuổi già có sự nhân nhượng rõ ràng — nếu chưa nói là kính trọng. Vì suốt thời chinh chiến đó, tuổi trẻ Việt-Nam chính mắt trông thấy tuổi già đã dấn thân, đã hi-sinh và chịu đựng. Trong chết chóc, trong đau thương, trong điêu tàn, tuổi trẻ chính mắt trông thấy tuổi già đứng làm hiên che mưa gió, làm cột trụ chống giông bão, tạo cho lớp trẻ một khung cảnh đủ tạm sống. Tuổi già đã bảo bọc tuổi trẻ bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng máu xương, bằng sinh mạng suốt thời gian khói lửa đó. Ðặc biệt trong trận chiến, đạn thù không phân biệt già trẻ, mà xuyên phá đồng đều da thịt mọi lứa tuổi ham chuộng tự do, bảo vệ tự do, dâng hiến trọn vẹn cho tự do. Suốt 36 năm chinh chiến đó, bao nhiêu lớp trẻ đã đứng lên thay thế lớp già để tiếp tục chống đỡ, tiếp tục gánh chịu cho đến ngày miền Nam sụp đổ.

Suy nghĩ mông lung về thời gian 1939-1975, tôi chợt cười buồn! Ai già? Ai trẻ? Ai đang già thì đã trẻ! Ai đang trẻ rồi sẽ già! Tất cả đều tương đối, tùy theo quan niệm và tùy theo vị trí của mình! Sự so sánh khởi từ hàm ý phân biệt. Ý phân biệt đã khởi rồi, làm sao tránh cho lý luận khỏi đắng cay. Từ lý luận đắng cay dấy lên, tuổi trẻ ngày nay phản ứng khác hơn tuổi trẻ ngày xưa! Khái niệm “kính lão” chỉ còn hời hợt mà không sâu đậm, tất tư tưởng và hành động theo đà giao động mà trở thành gay gắt.

Ðứng trong vị trí của riêng tôi, một người lính già đã gần 55 tuổi, tôi nhìn quanh và thầm thông cảm với những người “cùng một lứa bên trời lận đận”. Quan niệm quyết liệt của một số bạn trẻ hôm nay, theo tôi nghĩ, có thể khởi từ ba nguyên nhân chính. Thế hệ trẻ hôm nay có nhiều phương tiện để sinh sống, được học hành, có thời giờ để hưởng thụ, hay nghĩ suy hơn thế hệ của tôi, nên chắc đã nghĩ khác hơn tôi đang nghĩ! Dưới cái nhìn của một người “chưa trối chết nhưng không còn trẻ nữa”, tôi thấy rằng thế hệ của tôi đã phạm vào ba tội — ba nguyên nhân chính khiến cho một số bạn trẻ của tôi hôm nay có khi bực dọc, nếu chưa nói là rẻ rúng, có khi còn khinh bạc.

1. Dưới mắt một số bạn trẻ hôm nay, những người già hình như có tội “đã sinh ra trước mấy mươi năm”. Ngay trong thành ngữ cũng có sẵn câu: “Thân già thân tội”. Vì được sinh ra trước mấy mươi năm, nên giờ đây phải bị già trước, để có khi phải đón rước những nhận xét đắng cay từ phía trẻ. Thử nhắc lại câu: “Ngũ thập niên tiền, nhị thập tam” của cụ thượng tài hoa họ Nguyễn, để mỉm cười theo cái vui bất chấp của một bậc túc nho dám sống, nhưng sâu trong tâm tư, những sợi tơ vô cùng nhạy cảm đã rung theo âm ba của câu này với ít nhiều trào lộng, pha lẩn mỉa mai chua chát. Vì được sinh ra trước, nên đã bị thời gian mài giũa trước! Thử nhìn một cơ giới được chế tạo bằng kim khí tinh luyện, nếu đem sử dụng đúng mức thì tồn tại được bao lâu? 10 hay 20 năm? Huống chi một con người vốn bằng xương thịt, dù chuyển kiếp đầu thai, hay được tạo từ thánh ý, ngay từ lúc mới tượng hình đã gánh chịu tiền khiên căn bản “vô thập toàn”, làm sao khỏi hao mòn sau mấy mươi năm?

Ðặc biệt hoàn cảnh của Việt-Nam từ 1939-1975, những người già hôm nay, là thanh niên hồi đó, dù muốn dù không, đã phải lăn mình vào cuộc đấu tranh, hoặc tiêu cực hơn đã âm thầm gánh chịu cuộc chiến tranh dài, chuyển từ nhiều phía, mà bất cứ phía nào, cũng chỉ là chết chóc tang thương, rất nhiều hiểm nguy gian khổ. Tất cả những gì được gọi nôm na là kinh nghiệm của người già, có phải chăng là những chuỗi dài chịu đựng cam phận, nhẫn nại lặng lẽ? Hoặc những hậu quả đã phải trả bằng giá thật đắt, bằng mồ hôi, bằng nước mắt, bằng sự tàn héo của hình hài, có khi bằng thương tích còn mang trong cơ thể! Những kinh nghiệm mà một số ít bạn trẻ còn cho rằng có thể rút tỉa được, có khi đơn giản, có khi phức tạp, phần nhiều không còn hợp thời, hay ít khi ứng dụng, nhứt là trong cuộc sống ở hải ngoại hiện nay! Và cũng có người cho rằng tuổi già luyến tiếc thời vàng son. Ôi! cái danh từ mô tả “bên ngoài ảo vọng”! Nếu được đứng thử một lần vào bên trong “cái nơi tưởng rằng vàng son đó”, tuổi trẻ hôm nay sẽ thấy thương những người lớn tuổi đáng bậc phụ huynh nhiều hơn, và bớt đắng cay với họ.

Tôi còn nhớ, lúc mới rời quân trường được du học, đi xem phim “Ouragan sur le Caine” (Bão tố trên thuyền Caine), phim Mỹ chiếu ở Pháp hồi 1954 nên nói tiếng Pháp. Chuyện một hải quân thiếu tá (Humphrey Bogart) thuyền trưởng hay sanh tật, quá gay gắt với thủy thủ đoàn với những biện pháp kiểm soát vô lý. Ông bị nhóm sĩ quan trẻ (Van Johnson, Fred MacMurrey) tước quyền chỉ huy khi đang thao dượt ngoài khơi đại dương: gặp cơn bão loạn, ông đã điều khiển bằng những lệnh độc đoán sai trật khiến tàu sắp chìm. Nội vụ ra toà, nhóm sĩ quan trẻ sắp bị kết án đại hình. Một đại uý (?) thương phế binh hỏng một tay (Jose Ferrer) bào chữa cho nhóm trẻ. Nhờ dẫn dắt khéo léo các câu hỏi, luật sư này đã khiến vị thuyền trưởng bực mình và trổ “tật” mà ông đã cố che dấu: vừa trình bày độc thoại vừa mân mê trong tay mấy viên đạn thép móc từ túi ra. Nếu tòa là người Trung Hoa, thì có thể hiểu rằng ông đang luyện môn “thiết đảm”. Khổ thay! Tòa trong chuyện chỉ là những sĩ quan tư pháp quân đội Hoa-Kỳ, nên dù ái ngại cho một sĩ quan sắp về hưu, đành cùng nhau chấp nhận rằng thuyền trưởng có triệu chứng đau thần kinh. Rút cuộc, nhóm sĩ quan trẻ được trắng án, chiều đó, họp nhau liên hoan. Giữa cuộc vui, chợt thấy vị luật sư bào chữa cho họ tiến vào lớn tiếng bảo họ rằng: “Tôi tưởng các anh lặng lẽ trở về đơn vị và xấu hổ về việc làm của mình. Không ngờ các anh còn ở đây, vui mừng vì thắng được một người lớn tuổi. Ðể cứu các anh khỏi án đại hình, tôi đã làm thương tổn một sĩ quan sắp về hưu, đã bị tàn tật như tôi, dưới một hình thức khác. Các anh tự cho rằng các anh có học, có bằng cấp, giỏi hơn ông ta. Thay vì phụ giúp, các anh đã chống đối ông ta. Các anh quên rằng khi các anh còn mài đủng quần trên ghế nhà trường, thì những người như ông ta đã đứng ra gánh chịu trách nhiệm bảo vệ quê hương. Tôi thất vọng về thế hệ trẻ các anh”. Thuận tay, ông tạt một ly rượu vào mặt viên sĩ quan bày mưu cho cuộc nổi loạn (Fred MacMurrey thủ vai này) và bảo rằng: “Bây giờ, tôi thách thức anh! Nếu anh cho rằng anh vừa bị nhục thì tôi sẵn sàng gặp anh, bất cứ ở đâu, lúc nào và phương tiện gì. Chỉ có tôi với anh, bình đẳng, giữa con người và con người.”

Từ ngày đó (một ngày cuối thu 1954), tôi nhận thức đầy đủ ý nghĩa cuộc đời một quân nhân, và ý niệm tôn trọng niên trưởng được in sâu vào tâm khảm.

2. Dưới mắt một số bạn trẻ hôm nay, hình như những người già đang còn ở dương trần phạm thêm một tội là “sống quá lâu”! Lớp trẻ có thật mong cho lớp già chết sớm? Nếu không lấy câu chuyện một bộ lạc vùng Nam Thái Bình Dương nào đó, đã đem những người già của họ cho dự cuộc “đeo trên cây” hằng năm, thì thử đọc trên báo chí: trong những gia đình giàu có, cháu con mong ông bà cha mẹ chết sớm để được thừa hưởng gia tài! Tàn nhẫn hơn nữa, là có những vụ mưu sát thân nhân để được sớm hưởng thừa tự hay chúc thư! Nhưng nếu hôm nào, các cụ chịu chết đi như chúng mong muốn, thì chúng sẽ sẵn sàng lăn ra khóc, chít khăn tang, đi lùi trước quan tài, sụm lên té xuống ra cái điều bi thiết, nhứt là những cô dâu khóc mẹ chồng thì thật là nỉ non và ai oán nếu có ai chịu khó lắng nghe khi có dịp.

Ðối với thân nhân ruột thịt như ông bà cha mẹ, họ còn nhẫn tâm như vậy; nếu những người trẻ này mà nói lên câu “kính lão đắc thọ” đối với những người già nua tuổi tác bên ngoài, thì thật là đáng “e dè” vì đấy chỉ là lời ở đầu môi chót lưỡi, trong thâm tâm họ không hề nghĩ như vậy.

Suốt cuộc chiến tranh dài, tất cả những người đã vì bảo vệ lá cờ vàng ba nét đỏ phải hi-sinh nằm xuống, đều được tri ân bằng nhiều cách khác nhau! Riêng về phía quân nhân (vì thuộc nhóm này nên tôi thấy rõ hơn một chút), thì những người đã trẻ, khi tử trận, bỏ vợ dại con thơ, có khi vùi thây ở một nơi nào đó trong bốn vùng chiến thuật, xương tàn rụi dưới mồ vô danh trong rừng hoang, hay thi hài được gói ghém trong quan tài trên phủ lá quốc kỳ, được tiễn đưa theo lễ nghi quân cách ra xếp hàng nằm ở nghĩa trang. Những người này được vợ con thương khóc tận tình, được bạn hữu nhắc nhở thiết tha sau một ly rượu cay mờ nhân ảnh. Những người “đã nằm xuống” thỉnh thoảng cũng được lớp trẻ đề cao họ là anh hùng, là tử sĩ. Lớp người trẻ đâu có thiệt hại gì nhiều: một lời tiếc thương, một tiếng thở dài, nhiều lắm là một giòng nước mắt. Những sự việc này, chỉ khiến cho lớp người già còn sống hiểu rằng: “Nếu quý vị đã chết, quý vị cũng được tiếc thương như vậy! Vì các vị chưa chết, nên các vị không được xếp vào hàng anh hùng tử sĩ, dù rằng trong cuộc chiến, có thể quý vị đã hi-sinh nhiều hơn những người đã chết!”

Ngẫm lại câu “Sống lâu chỉ thêm nhục” càng thấy thấm thía vô cùng. Ví thử “những người đã được xếp vào hàng anh hùng tử sĩ kia” mà còn sống đến hôm nay, chắc chắn quý vị cũng rất già, già lắm! Và quý vị cũng bị tuổi trẻ hôm nay xếp chung “cá mè một lứa sống dai không chịu chết” chung với những người già còn sống hiện nay, để cùng gánh chịu những điều đắng cay của khoảng đời còn lại. Và thế nhân thường hối tiếc những gì đã mất, ít khi lưu ý giữ gìn những cái hiện còn! Tâm lý chung là như vậy, thì tâm lý của một số bạn trẻ hôm nay khó thoát ra ngoài thông lệ!

3. Xét cho cùng, tuổi già hôm nay lại còn mang thêm một gánh nặng “trốn trách nhiệm“ hay “không chịu cách mạng bản thân”. Thật là trớ trêu! Nếu những người già hôm nay thủ phận, ngồi nhà, lây lất với trợ cấp xã hội, hoặc nhờ con cháu cấp dưỡng qua ngày, lo rửa chén lau nhà cho vợ, thì bị trách: “Các ông đã hưởng ơn vua lộc nước, đã có một thời vàng son, rồi bây giờ phó mặc thế sự, trốn tránh trách nhiệm”. Nhưng oái oăm thay! Nếu những người già hôm nay còn cưu mang bổn phận, nặng niềm ưu quốc, mang trọn vẹn con người mấy mươi năm cũ đến tham gia, để rồi mỗi khi va chạm trong việc làm, bất đồng ý kiến khi bàn luận, thì lại được gán ghép cho những danh từ rất đẹp như hủ lậu, quan liêu, quân phiệt (nếu những người già là lính), và không chịu làm cách mạng bản thân nói riêng, và làm cách mạng nói chung.

Thật ra, trong chuyến chạy này, chạy trước hay chạy sau cũng thế, mọi người đều có trách nhiệm của mình dù nhiều hay ít, dù thất phu hay khoa bảng, dù trẻ mạnh hay già yếu! Bởi là quốc nạn, nên ai cũng có phần. Không cứ gì người già hôm nay, trong lứa tuổi những người có cơ hội cầm quyền trong hai thập niên 1955-1975. Gánh nặng mất nước phải chia đều, chứ không thể trút riêng cho một thế hệ, cho những người già còn sống hôm nay! Vì ai cũng biết rằng từ những người cầm quyền đến những người cùng thế hệ với họ vẫn có một khoảng cách xa, ngang bằng khoảng cách giữa hai thế hệ trẻ già, mỗi khi có một vấn đề tranh luận.
Vì không trốn tránh trách nhiệm, những người già hôm nay còn xông xáo, còn có mặt để chia sẻ một phần ưu tư với những người còn có tinh thần trách nhiệm hiện nay. Không phải mong sẽ hưởng lại ơn vua lộc nước vì vua thì đã bị chính mình truất phế, mà nước thì bị xâm lăng đày đọa. Cũng không phải để tìm lại bóng vàng son, vì làm gì có vàng son trong cuộc đời của những người tận tình phụng sự đất nước!

Thế nhưng những người già hôm nay, có mặt, hiện diện với trọn vẹn “con người xưa được đào tạo trong mẫu mực nào thì vẫn giữ nguyên nề nếp đó”. Tôn trọng nề nếp, trật tự, mực thước, không phải là quan liêu. Giữ gìn tác phong, dù phải rời xa hàng ngũ, chỉ là bảo vệ một truyền thống hào hùng, không phải là quân phiệt. Ôi! những danh từ! Sao mà bị dùng oan uổng như vậy!

Nói một cách nôm na, một võ sinh chính thống thuộc phái “Tây Sơn Nhạn” từ khởi luyện công học quyền; rồi được hạ sơn, cho đến chết vẫn vận công Tây Sơn Nhạn, đánh quyền Tây Sơn Nhạn không thay đổi. Người già hôm nay cũng vậy, dù không thay đổi được “bản thân”, vẫn có mặt chỉ để chứng minh thiện chí với những người đang trẻ. Vì người già biết rằng dù chết vẫn chưa yên, nặng mang sầu cố quốc, vẫn thiết tha với sự sống còn của dân tộc, còn ưu tư với vận mệnh quốc-gia, nên tiếp tục muốn tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại bạo quyền Hà-Nội. Chỉ đơn giản có thế thôi, mà không mảy may tham vọng xa vời! Mà cuộc đấu tranh chống lại chế độ chuyên chính hẵn còn dài, những người già hôm nay sẽ rơi rớt dọc đường như những người già trong cuộc chạy đua hôm nọ. Bệnh hoạn, tai nạn, và số trời sẽ chém thưa dần hàng ngũ của những người già trước! Hơn nữa, con đường trở lại “quê hương trăm ngàn thương nhớ” là con đường máu lửa dẫy đầy gian hiểm. Nặng thì súng thù và đạn giặc, sắt thép vô tình đâu có lựa chọn kẻ già người trẻ, mà sát phạt đồng đều! Nhẹ thì lao ngục và công an, bạo tàn đâu có phân chia già trẻ mà tra khảo giam cầm như nhau! Rồi đây, liệu biết ai còn ai mất, nếu những người trẻ rộng tay cho những người già tháp tùng có cơ hội để trở về!

Và những người già cũng rất thận trọng khi nhắc đến hai chữ cách mạng nói chung. Người già hôm nay chỉ mơ ước được dự vào cuộc vận động sơ khởi đấu tranh chống lại bạo quyền Hà-Nội, mà không bao giờ dám nghĩ rằng đang làm cách mạng! Vì cách mạng bao hàm ý nghĩa hi-sinh cá nhân khi nhập cuộc, và hành động sắt máu lúc cướp được chánh quyền, để thực hiện một cuộc đổi thay chế độ toàn diện sau khi thành công! Ai đã hi-sinh bao nhiêu mà dám xưng làm cách mạng? Ai đã thành công hay cướp được chánh quyền mà dám xưng là cách mạng? Ai đã đổi thay được gì trong chính bản thân mình ngay ở đây, trong khi chờ đợi một cuộc đổi thay to tát khác, mà dám xưng làm cách mạng? Người ta nhắc đến cuộc cách mạng 1776 của Hoa-Kỳ, người ta nhắc đến cuộc cách mạng 1789 của Pháp, vì cái nghĩa trọn vẹn của nó! Người già hôm nay, vốn dĩ thận trọng và tự lượng sức mình, nên không dám lạm dụng danh từ. Nhưng khi cần chết cho chánh nghĩa, thì luôn có những người già cận kề những người bạn trẻ dám hi-sinh.

Nhân nhắc đến việc dùng danh từ một cách thận trọng, tôi chỉ dám đề nghị với bạn bè tôi nên “thương già” trước. Vì tình thương không đòi điều kiện, không lựa chọn. Vì tình thương rộng rãi sẽ dễ chấp dung hơn. Bởi thương một người già thì thương trọn vẹn con người đó với tất cả thói hư tật xấu cố hữu. Thương một người già nua tuổi tác là thương luôn tánh lẩm cẩm, sanh tật, khó khăn của người đó. Từ thương chuyển sang kính dễ hơn, mà từ kính trở về thương cũng không mảy may suy giảm trong tình người. Nếu “kính già” thì người già phải có vài điều kiện tối thiểu, trong đó tuổi tác chỉ là một yếu tố sơ khởi dù cần thiết nhưng không đủ để duy trì niềm kính. Vì một người già được kính tất phải “đạo cao đức trọng” hơn người. Ðến một hôm nào đó, khi chỉ còn thấy cái lẫm cẩm, sanh tật, khó khăn của người già che mất những đức tính khiến mình mến phục trước đây, thì niềm kính sẽ không còn nữa! Mất niềm kính, sẽ sinh ra bất kính. Từ bất kính sang hổn láo chỉ là một bước thật ngắn ngủi, dễ dàng.
Chữ “yêu trẻ” cũng vậy! Em mình trong nhà có khi còn không yêu được, con cháu trong nhà còn thương ghét khó đồng đều! Nếu nói rằng “yêu trẻ” mà không thật tâm yêu trẻ là nói dối! Xin đề nghị nói rằng “mến trẻ” là vừa đủ, có chừng mực, vừa trung thực với chính mình, cũng không phải cố gắng nhiều mà vẫn đủ tình người.

Ai già? Ai trẻ? Ai đang già thì đã trẻ! Ai đang trẻ tất sẽ già! Trong dòng thời gian trôi xuôi, tuỳ theo vị trí hiện tại của mình, sự khác biệt thật là tương đối, mong manh, phù du! Sao lại đi ôm vào tâm tư một ý niệm phân chia tự nó vốn vô thường! Tôi muốn hẹn với những người bạn trẻ của tôi hôm nay: nếu tình cờ, các bạn có đọc những dòng này, các bạn hãy khoan cười. Mười lăm năm sau, nếu chúng ta cùng còn sống, tôi sẽ già hơn bây giờ nhiều lắm. Khi đó, các bạn nhớ nhắc tôi, tôi sẽ chép hầu các bạn vài chuyện “khóc già sợ trẻ“. Khóc người già lần lượt ra đi, hay đang sống lây lất chờ ngày. Sợ trẻ vì “hậu sanh khả úy”, mà úy là sợ, chứ còn gì nữa! Lúc đó, chắc chắn các bạn sẽ hiểu thấm thía hơn về ý nghĩa chữ “già” mà tôi đang ngẫm nghĩ hôm nay!

Tôi xin hạn chế bài này — chỉ gởi riêng cho một số thật ít bạn trẻ của tôi hôm nay đang thắc mắc về vấn đề già trẻ! Và cũng xin hạn chế gởi riêng đến một số người già không tiền, không tài, không danh, không vị như tôi, để cùng nhau chia sẻ nỗi ngậm ngùi khi phải nếm vị đắng cay của đoạn cuối cuộc đời mình. Vì có những người già khác có tiền, có tài, có danh, có vị, những người này không phải mất một phút giây nào để băn khoăn về một áng mây giăng cuối mùa! Những người này không có nỗi băn khoăn vô tích sự mà tôi đang cưu mang: nỗi băn khoăn của một người muốn thốt lời từ tạ mùa thu, mùa thu đang dần phủ xuống cuộc đời



L o n g T u y ề n
Hà Bình Thủy
sơ Thu 1986


25818 top -
ĐẾM BƯỚC LƯU VONG
1, 2, 3
_______________________________________________
Tình Thơ Mùa Thu - thơ - Hoàng Thy Mai Thảo _______________________________________________

Image

Dưới ánh trăng thu lẻ bóng hình
Ta ngồi đợi mãi lúc bình minh
Chờ cơn gió nhẹ mơn ngàn nắng
Tự hát ru mình mộng nhân sinh

xem tiếp...

_______________________________________________
Ngữ... - văn - Phạm Chi Lan _______________________________________________

Image

Ðôi khi, thời tiết khí trời đem đến cho tôi những ngày sầu mang mang, chỉ thấy trống vắng và lâng lâng khi nhìn mầu nắng quái thoi thóp lấp lánh trong một vòm cây. Vài con chim về ngủ sớm trên cành, và những gợn gió nhẹ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Về Từ Vô Vọng - nhạc - Hoàng Đình Bình _______________________________________________

Image


xem tiếp...

_______________________________________________
Thu Hồng Một Thuở - ảnh - violetdehue _______________________________________________

Image


xem tiếp...