THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP









H O À I .N I Ệ M
___________________________________________________________________________
2 0 1 8


23891


Image



khi mặt trời vỡ, chiều rơi xuống
ngọn triều âm từ vực thở vút lên
phả vào không gian trường ca sóng vỗ
ngợi ca rừng nuôi mộ cỏ rêu xanh!

lời khai tử chào tiếng hát em
anh đọc trên đỉnh trường sơn mùa tuẫn nạn
còn âm vang bi tráng đến bây giờ
giữa tháng tư đứng chờ mặc niệm!

khi mặt trời tung bình minh lên núi
ngọn triều âm xóa rêu phủ mồ hoang
anh lại chào em tiếng hát ngày xưa
bằng hơi ấm khúc dương cầm của biển

tháng tư về với nụ cười thánh thiện
đất trở mình khoe hoa nở lời chim
rừng dụi mắt sau triền miên tĩnh mịch
nhìn chăm chăm cây lá biếc quanh mình!

cám ơn em, tiếng hát của rừng xưa
ngọn triều âm dấu trong mùa sử tích!



23892



Image


t h á n g .t ư . .. t ô i .c ó. g ì .đ ể . m ấ t ?
___________________________________________________________________________
đ i n h c h i n h



tháng tư
tôi không có gì để mất
tôi không có tuổi trẻ thơ mộng ở Sài Gòn
không có những sáng ngồi Brodard
chiều La Pagode
không Đêm Màu Hồng
không cả Tự Do
tôi không có chiều Duy Tân bóng mát
không ly chanh đường uống ngọt môi em .

tháng tư
tôi không có gì để nuối
không bài thơ nào trong cặp sách
đứng trước Gia Long
không Thái Thanh nghìn trùng xa cách
không Thanh Thuý rơi lệ vũ trường
không nghe Bích Chiêu nối dài đại lộ
không ngày-xưa-Hoàng-Thị
không có ai để gọi nhau bằng cưng .

tháng tư
tôi có gì đâu
ngoài đôi dép nhựa đứt quai
đứng nhìn đoàn người áo xanh nón cối
hát ca trên chiếc xe tải đi qua nhà
tay phất cao lá cờ ba màu đỏ, vàng, xanh.
tôi có một buổi sáng
đứng nhìn ngàn ngàn cuốn sách
bị ném trong đám lửa sau vườn
vài trăm bức tranh của Bố
chặt ra làm củi nấu cơm
những chiếc áo dài hoa
và nhiều đôi giày gót cao của Mẹ
vất vãi đầy sàn .

tháng tư
tôi chỉ có một buổi trưa
đi học về
tông cửa chạy vào
khựng thấy những người lạ mặt
đang ngồi trong phòng khách nhà
vỏ chuối vất dưới chân
và họ rót chè
bằng ấm trà cổ Bà Nội để lại
mời Bố Mẹ tôi uống
rất vô tư .

tháng tư
ngoài một thành phố
vừa mất tên
tôi có gì để mất?


29.4.2018


23893


Đ À .N Ẵ N G .& .C A M .R A N H, .
n h ữ n g .n g à y .c u ố i .c ù n g...
__________________________________________________________________________
p h ạ m a n h d ũ n g



Ngày 29 tháng 3, 1975 là ngày mất Đà Nẵng.

Buổi sáng 29 tháng 3, tôi vẫn còn ở Tiểu Đoàn 3 Quân Y Sư Đoàn 3 Bộ Binh. Tìm Vũ Quốc Cường, cùng lớp Y Khoa Sài Gòn 1974 và cùng khóa Quân Y Hiện Dịch 21 (QYHD-21) thì được biết Cường được anh ruột Vũ Quốc Cương, bác sĩ quân y chuyên khoa Gây Mê ở Tổng Y Viện Duy Tân, đón đi từ hôm qua, khi Tổng Y Viện Duy Tân “tan hàng”.

Tôi thật tình cũng không biết phải làm gì, vì không phương tiện di chuyển và cũng không biết đi đâu bây giờ! Tôi hoàn toàn không biết đường lối vì mới ra trường và đáo nhậm đơn vị mới có hai tuần lễ!

Tình cờ gặp xe Jeep của Nguyễn Hữu Mãn (QYHD-20), lúc đó là y sĩ trưởng Thiết Kỵ của Sư Đoàn 3. Trên xe có 3 dược sĩ, Lê Văn Khoa (QYHD-18), Lê Tử Ý và Trần Văn Quang (QYHD-20). Họ rủ tôi cùng chạy ra Đà Nẵng. Đoán chừng là đến lúc phải đi, tôi vội vớ lấy cái đàn guitar và bốn quyển sách nhạc chép tay mà tôi rất quý, theo các bạn lên xe.

Thành phố Đà Nẵng lúc đó coi như thành phố chết, thỉnh thoảng có bóng người và tiếng súng nổ. Nhưng ra đến bến tàu sông Hàn thì đầy người. Lê Văn Khoa nhẩy xuống được và đứng ở mũi một chiếc ca nô. Khoa cầm súng M16 "giữ trật tự", vì dân chúng muốn ùn vào ca nô có thể làm chìm. Lê Văn Khoa dục tôi nhẩy theo, nhưng không rõ vì lý do gì không nhớ được, tôi ở lại bến tàu! Tôi lại chạy ngược về Sư Đoàn 3, hình như cùng xe Jeep với Nguyễn Hữu Mãn. Trước khi chia tay, tôi có thẩy xuống ca nô cái đàn guitar và bốn quyển nhạc nhờ Khoa giữ.

Về đến Sư Đoàn 3, tôi gặp Lê Văn Thu, QYHD-20, đang chạy ra. Thu hỏi: Cậu còn quay về lại đây làm gì? Đâu còn ai, còn gì nữa đâu!. Thu có hai xe gắn máy, Thu chạy bằng chiếc Honda do vợ để lại (vợ con Thu đã bay về Saigon trước đó một tuần), và đưa tôi cái xe Bridgestone bảo tôi chạy... ngược lại bến tàu. Thật là luẩn quẩn!

Đào Tư Huyền (y sĩ trưng tập, vừa được bổ nhiệm ra Thiết đoàn Kỵ Binh của SĐ3BB, chuẩn bị thay Nguyễn Hữu Mãn) lái cái xe gắn máy Yamaha chạy cùng lúc. Tôi lại chạy qua thành phố Đà Nẵng, tiện ghé phòng mạch Nha Khoa của anh Nha sĩ Nguyễn Nhật Thăng (QYHD-19) rủ cùng đi. Anh Thăng đã đi rồi, nhưng lại bất ngờ găp bạn thân Nguyễn Tiến Dũng, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) QYHD-21, em ruột anh Thăng.

Đào Tư Huyền biết đường phóng Yamaha chạy đi trước dẫn đường, hai thằng Dũng chở nhau theo sau để ra bến tàu. Giữa đường xe Bridgestone chết máy. May sao Đào Tư Huyền quay lại tìm và thế là cả ba đèo nhau trên xe Yamaha ra được bãi biển Tiên Sa, ở bán đảo Sơn Trà.

Lúc đó coi như tuyệt vọng: Cả ngàn người chen nhau đứng trên xà lan thành không còn hy vọng gì. Ba thằng bèn đứng ở bến tàu nhìn... người.

Khoảng 3 giờ rưỡi chiều, sao tự nhiên có cái thuyền nhỏ xáp vào. Người chủ thuyền mời ai muốn đi ra khơi. Không ai dám theo, nhưng tôi bảo Dũng và Huyền: Đằng nào mình cũng hết đường.

Cả ba móc túi có bao nhiêu tiền đưa gần hết cho chủ thuyền. Thuyền ra sau một rặng núi bên bờ biển thì chúng tôi thấy một số tàu nhỏ há mồm (tàu đổ bộ-Landing craft LCU) đậu đợi đón đám quân Lôi Hổ. Một thiếu uý Lôi Hổ trên một tàu dơ tay, bàn tay chiến hữu, kéo chúng tôi từng người vào tàu.

Và vì vậy sau đó cả ba về được Cam Ranh.

Lê Văn Khoa rồi cũng về được Cam Ranh nhưng đàn và sách nhạc thất lạc hết trơn.

Xe tăng của Việt Cộng vào Đà Nẵng cũng buổi chiều cùng ngày 29 tháng 3 năm 1975.



Ngày 2 Tháng Tư 1975 ở Cam Ranh.

Sau mấy ngày đêm lênh đênh trên chiếc tàu đổ bộ nhỏ đi chậm từ Đà Nẵng đến được Cam Ranh. Nguyễn Tiến Dũng, Đào Tư Huyền và tôi được tầu cập bờ cho xuống. Ba thằng mệt nhoài sau những ngày đêm đói và khát, vì chỉ được cho chút nước uống cầm hơi.

Vừa lên bờ cả bọn tìm một quán ăn uống cho đỡ đói lòng. Ăn xong ra khỏi quán thì gặp một đám lính Thủy Quân Lục Chiến. Đó lại là quân của TĐ-TQLC 1 cũng thoát về đến Cam Ranh. Nguyễn Tiến Dũng, y sĩ trưởng TĐ1-TQLC, gia nhập lại đám lính của mình và theo họ đi với Tiểu Đoàn.

Tôi và Huyền đi loanh quanh.

Bến tàu đầy lính: Đa số là TQLC, rồi Nhảy Dù, Biệt Động Quân, Bộ Binh... Đủ mọi binh chủng Hải Lục Không quân từ vùng 1 và một số vùng 2 chiến thuật đã mất đổ về. Tôi và Huyền, hai y sĩ của Sư Đoàn 3, chỉ tìm được vài người lính ở Sư Đoàn 3. Hai đứa không biết phải làm gì bây giờ!

Tôi chợt nhớ ra đến Hải Quân Đại tá Bùi Cửu Viên. Anh Viên là chồng chị Hồng Thủy, bạn thân chị Nga, chị ruột tôi. Tìm gõ cửa và được anh cho vào nhà, "để anh sẽ tính sau". Anh Viên lúc đó là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân ở Cam Ranh. Anh cho biết tình thế rất nghiêm trọng và anh đang tìm cách đưa "cả trường" về Nam. Huyền mệt lăn ra ngủ. Tôi không yên tâm, lại lẻn bỏ ra phố đi luẩn quẩn một mình.

Tình cờ có một xe đầy lính TQLC đậu trên đường. Trên xe, thấy có hai bạn QYHD-20 là Bùi Ngọc Bảng và Phạm Ngọc Trâm cùng vài Y Sĩ TQLC đàn anh khác. Tôi có vẫy tay chào để hỏi tin tức, nhưng cả hai đều không kịp nhìn ra tôi vì xe họ lại chạy ngay lúc đó.

Chỉ độ ba giờ đồng hồ quay lại mà thành phố đã đổi hẳn: Đông lính hơn và trật tự không còn nữa. Lai rai đã có súng nổ và lính cầm súng chạy vừa bắn mà không rõ bắn ai! Một người bị trúng đạn xuyên qua cánh tay chảy máu. Tôi phải xé tay áo rách của anh ta để chặn vết thương cầm máu. Ngồi cột vải cho vết thương mà thấy... lạnh ở lưng, vì súng vẫn nổ!

Tôi gõ cửa một quán ăn, không phải để vào ăn mà để tìm chỗ ... tránh đạn! Khi tiếng súng vừa ngưng tôi vội trở về nhà anh Viên. Anh Viên nổi giận "la" cho một trận bảo không được ra khỏi nhà nữa.



Ngày 3 tháng Tư 1975 ở Cam Ranh.

Sáng sớm, anh Viên đánh thức hai đứa dậy, cho biết Nha Trang đã mất ngày hôm trước. Anh không cho thì giờ đánh răng và rửa mặt. Anh chở thẳng hai đứa ra bến tàu, dẫn lên tàu HQ-802.Trên tàu gặp lại Nguyễn Tiến Dũng và thêm Nguyễn Bá Linh (TQLC, QYHD-21). Linh kể khi ở Đà Nẵng, suýt chết đuối trên biển khi ráng bơi ra tầu. Tôi cũng được kể bạn thân Vũ Đức Giang (TQLC, QYHD-21) bị kẹt và bị bắt ở bãi biển Thuận An, Huế.

Hai đứa, Huyền và tôi, theo tàu HQ-802 chở đám còn lại của sư đoànTQLC (chắc chỉ hơn 1000 quân) về đến Vũng Tàu.

Anh Bùi Cửu Viên ở lại Cam Ranh lo cho các khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân.


Ngày 4 tháng Tư 1975: mất Cam Ranh.

__________________________________________________________________________


Image
Bến sông Hàn Đà Nẵng dân ùa lên thuyền ra khơi sáng ngày 29 tháng Ba 1975



Image
Bãi biển Tiên Sa, Sơn Trà khi xà lan đã đầy người trưa ngày 29 tháng Ba 1975



Image
​Đà Nẵng, xe tăng CSVN tiến vào Đà Nẵng chiều ngày 29 tháng Ba 1975​


23902



Image

C H À O . V Ĩ N H . B I Ệ T
__________________________________________________________________________
tranh . ©t r ầ n t h ị h à t h â n


Image


23903



Image


c h o .đ ê m .t r ở. g i ấ c
__________________________________________________________________________
n g u y ễ n t h ị b ạ c h v â n



Tôi làm thơ cho thì hiện tại
Một nỗi buồn không có tương lai
Tôi làm thơ cho thì quá khứ
Mỗi nhớ thương mai một từng ngày

Tôi viết bài thơ cho đất nước
Độc tài bảo thủ vẫn khư khư
Tôi viết cho quê hương dân tộc
Hình chữ S đang mất từ từ.

Người về đây dỗ đêm khó ngủ
Bàn tay nồng thay thế lời ru
Tâm hồn tôi không nơi cư trú
Loanh quanh đời tìm chốn di cư

Tôi đang thở những hơi khó nhọc
Như câu thơ bế tắc giữa chừng
Những đêm trắng phủ lên mái tóc
Bờ vai gầy nghiêng những nhịp rung



23904


Image


để tưởng nhớ đến nhạc sĩ Nguyễn văn Đông
và những người trai âm thầm hy sinh cho quê hương Việt Nam.



23905




M I L L Y .
(O Ù .L A .T E R R E .N A T A L E)


Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie?
Dans son brillant exil mon coeur en a frémi;
Il résonne de loin dans mon âme attendrie,
Comme les pas connus ou la voix d'un ami.

Montagnes que voilait le brouillard de l'automne,
Vallons que tapissait le givre du matin,
Saules dont l'émondeur effeuillait la couronne,
Vieilles tours que le soir dorait dans le lointain,

Murs noircis par les ans, coteaux, sentier rapide,
Fontaine où les pasteurs accroupis tour à tour
Attendaient goutte à goutte une eau rare et limpide,
Et, leur urne à la main, s'entretenaient du jour,

Chaumière où du foyer étincelait la flamme,
Toit que le pèlerin aimait à voir fumer,
Objets inanimés, avez-vous donc une âme
Qui s'attache à notre âme et la force d'aimer ?...



ALPHONSE DE LAMARTINE (1790 – 1869)

___________________________________________________________________________

Image
___________________________________________________________________________


M I L L Y .
(h a y .S I N H .Q U Á N)


Sao thốt lên chi, danh từ tổ quốc?
Trong lưu đày hào nhoáng, tim ta nao.
Từ xa vọng vào hồn ta thổn thức
Những bước quen hay tiếng bạn tâm đầu!

Những ngọn núi sương thu che ẩn hiện,
Những lủng con thảm móc sáng trải giăng,
Những cội liễu phô tàng tròn vương miện,
Những tháp xưa xa vợi nhốm chiều vàng.

Tường đen tháng năm, dảy đồi, nẻo dốc,
Mạch hiếm trong, đoàn mục tử ngồi vây
Luân phiên đợi hứng nước rơi từng giọt,
Bầu cầm tay, trao đổi chuyện trong ngày.

Túp lều rạ, từ bếp hồng ánh lửa,
Mái khói un, gợi mắt khách hành hương,
Vật bất động, có linh hồn chăng tá?
Quyện hồn ta và ràng buộc yêu thương!



L o n g T u y ề n
lược dịch xong ngày 18 tháng 07 năm 2002
chép lại 09:45 tối ngày 25 tháng 08 năm 2004




23909



Image


T H Á N G .T Ư .r i ê n g, .c h u n g...
____________________________________________________________________________
p h ạ m c h i l a n



Tháng tư. 'Tháng tư thổi dốc cầu xưa rờn rợn' (*), tháng tư ngan ngát lưng đồi tím blue bonnet, tháng tư trăn trở niềm riêng, ngập tràn nỗi nhớ về một kỷ niệm tháng tư buồn năm xưa. Trong chúng ta, ai cũng có một tháng tư mặc niệm, tháng tư buồn chung và tháng tư đau riêng, mỗi tháng tư trong chúng ta là một dấu mốc thời gian đặc biệt để nhớ lại những ấn tượng! Tháng tư hôm nay, bỗng đâu lại trở về một tháng tư 75 với bao nhiêu biến chuyển đổi đời, những khúc ngoặt, những ngã rẽ của dòng sông cuộc đời nào cũng cho ta nhiều kỷ niệm hồi ức khó mờ phai.

Và sáng nay, bỗng bắt gặp một thoáng nắng vàng rưng rưng, một vòm mây sáng trong, thấy lại chùm phượng đầu mùa đỏ rực của mùa hè sửa soạn đâu đây, báo hiệu một mùa bình an, nghỉ ngơi thư thả sắ p tới.

Hãy cùng nhau nhớ về một tháng tư trong chúng ta, chia sẻ niềm riêng và nỗi buồn chung...


* thơ Nguyên Nhi

Image


23910


Image


23912 top -
h o à i n i ệ m
1 ... 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 ... 24
_______________________________________________
Lệ Đá - thơ - Nguyễn Tư Phương _______________________________________________

Image

trong hơi thở
đá nằm
nghe lạnh quá
hồn phong linh
quạnh quẽ
tiếng rung buồn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Cũng Cùng Là Mẹ - văn - Hoài Yên _______________________________________________

Image

Con người sinh ra ai cũng muốn có cái quyền nói lên tiếng nói của chính mình. Tại sao một đứa bé vừa rời lòng mẹ lại khóc oe oe? Tại sao không cần chỉ hít vào lồng ngực một luồng không khí là buồng phổi tự động nở ra mà phải khóc thét lên một tiếng? Phải chăng tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh ấy cũng như một tiếng nói của riêng nó hầu nhấn mạnh sự có mặt của nó trên cuộc đời này.

xem tiếp...

_______________________________________________
Lời Cầm Sương Tôi - nhạc - Nguyễn Tiến Dũng _______________________________________________

Image

buông tay
ngây ngất dịu dàng
buông hồ cầm bặt âm vang
buông thanh âm
thơ ngát không gian
khép mặt giã từ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Hsinbyume - tranh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image



xem tiếp...