THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image


c h ú t .m à u .t h ơ
____________________________________________________________________________
m â y t r ắ n g . b v



chút màu võng lụa níu hoàng hôn
thoảng lại ngàn sau đẫm sắc dồn
sợi ánh tơ vàng nồng đượm lửa
hương đằm mảnh sáng thắm vàng thôn
bên trời lặng lẽ mơ lồng bóng
góc suối tràn dâng mộng trải hồn
tiếng sáo chiều thu thong thả gọi
thơ vờn khói tỏa diệu huyền ngôn




10964



Image
m ê
T Â M
____________________________________________________________________________
k h ô n g q u á n



Khi tan sở, trên đường xa lộ Huy trở về nhà thì trời đã tối dần. Đường về nhà Huy vào buổi chiều đối diện với hướng tây... Con đường xa lộ thường xuyên bị tắc nghẽn vào giờ tan sở, xe chạy từ từ chậm chạp nối đuôi nhau. Chàng vừa lái xe vừa tĩnh tâm quán tưởng sau một ngày lao động tinh thần trong sở làm căng thẳng. Trên con đường này, để tâm thức không bị lao xao, dao động, Huy vẫn thường hay quán tưởng là mình đang đi về Tây phương cực lạc của đức Phật A Di Đà.

Mặt trời đang lặn thấp lắm đằng sau chân trời xa thẳm. Nhưng ánh hoàng hôn màu vàng rất đậm đà vẫn còn chiếu sáng. Huy say mê vẻ đẹp của ánh tà dương. Nó vừa sáng rực rỡ, lại vừa mát mẻ không nóng cháy như ánh mặt trời vào buổi trưa. Chàng nhẩm đọc bài tụng Quy Mạng Lễ A Di Đà Phật mà lòng thấy an bình mát mẻ.

Về đến nhà thì trời đã tối hẳn. Huy nhìn lên bầu trời đêm trong sáng, ánh trăng đã lên cao tròn đầy vành vạnh. Hôm nay là ngày rằm, không phải là một ngày rằm bình thường mà là ngày rằm cúng vía Phật và cầu nguyện cho các cô hồn. Đang là mùa thu, tiết thu phân thường mưa dầm sùi sụt thương cho các oan hồn uổng tử. Huy đã ăn chay từ sáng và sửa soạn một buổi tối cầu nguyện ở nhà để cúng cho cha mẹ và các cô hồn. Cha chàng đã mất từ hơn mười năm, còn mẹ thì vừa ra đi năm ngoái.

Vừa vào đến trong nhà thì chàng đã ngửi thấy mùi bánh cuốn. Vợ Huy, là Từ đang ở trong bếp đến tráng bánh cuốn là một món Huy rất ưa thích. Ở Cali, chàng thấy sự tiện nghi thật đầy đủ với tất cả các thực phẩm có thể mua được và thực hiện những ngày ăn chay theo âm lịch mà hai vợ chồng đã hành trì từ nhiều năm nay.

Huy đến bên Từ hỏi:

- Mệt không em? Sao không chờ anh về phụ đỡ tráng cho em.

Từ rạng rỡ khi thấy Huy đã về và ôm chàng hôn trên má:

- Không anh, em làm từ từ nên không mệt đâu, hôm nay rằm tháng bảy, mình cầu nguyện cho cha mẹ và các cô hồn nhé.

Huy mỉm cười im lặng đồng ý. Chàng đã sửa soạn tâm tư quán tưởng đến đức A Di Đà gần hai tiếng đồng hồ trên con đường xa lộ tắc nghẽn. Huy nhìn Từ nói.

- Trời ơi, bán cuốn chay em tráng và cuốn đẹp quá. Ngon lắm đấy. Hôm nay ăn chay mà thịnh soạn quá.

Từ mỉm cười nhìn Huy.

- Xong hết rồi anh ạ. Anh đi tắm đi để ăn tối xong và làm lễ cúng nhé.

Huy hôn lên mà Từ mỉm cười và lẳng lặng đi vào phòng tắm...

Sau khi bước chân ra ngoài phòng tắm và thay quần áo nhẹ ở nhà xong, Huy đi ra bếp thì thấy các món ăn đã sắp sẵn tinh tươm ngon lành sạch sẽ trên mặt bàn bếp. Chàng không thấy Từ đâu cả bèn đi vào phòng học kiếm Từ. Nàng đang ngồi bên bàn máy tính, quay lưng lại phía cửa. Huy nhẹ nhàng bước vào và xoay Từ lại xem nàng làm gì. Chàng hoảng hốt khi nhìn Từ long lanh đôi giòng lệ.

- Chuyện gì thế em? Em bệnh hả.

Từ lắc đầu, và chỉ vào màn hình. Trên đó Huy nhìn thấy bản tin trên tờ báo Cali trên mạng internet những hàng chữ tường thuật cực kỳ đau thương cái chết của một em thiếu niên gốc Việt Nam đã tốt nghiệp trung học, nhà nghèo lắm mà không có việc làm. Em học giỏi và ngoan, nhưng vì tâm tư dằn vặt trong cảnh nghèo túng của bà ngoại và mẹ, lại bị thất nghiệp mãi trong tình trạng kinh tế khó khăn hiện tại mà đi đến trầm cảm nặng nề và sau cùng đã tự treo cổ chết (1).

Bản tin cực kỳ xúc động và chấn động tâm tư. Huy im lặng buông người gieo phịch người xuống chiếc ghế bên cạnh mình.

Một phút mặc niệm trôi qua. Chàng lẩm nhẩm bài chú cầu nguyện siêu thoát cho em thiếu niên. sau đó, chàng chùi nước mắt trên mặt Từ...

- Anh ạ, tối nay mình làm lễ Mông Sơn thí thực cúng cô hồn, tụng kinh A Di Đà để hồi hướng siêu sinh tịnh độ cho em ấy nhé.

Huy im lặng gật đầu. Bữa cơm chay buổi tối tuy ngon miệng mà cả hai người đều cảm thấy đắng nghét vì bản tin.

Ăn xong và nghỉ ngơi thoải mái rồi, hai người đi vào phòng thờ và cử hành buổi lễ Mông Sơn thí thực một cách thanh tịnh và thành kính. Khi tụng đến đoạn cầu siêu thoát cho hương linh của em thiếu niên, Huy cực kỳ xúc động và nước mắt tuôn trào...

Quy mạng lễ A Di Đà Phật
Ở phương tây thế giới an lành
Con nay xin phát nguyện vãng sinh
Cúi xin đức từ bi tiếp độ...


Quán tưởng đến cha mẹ và hương linh của em thiếu niên trong phút giây mặc niệm im lặng...

Như thường lệ, sau buổi tụng và trì kinh A Di Đà, hai người ngồi thiền. Không biết Từ thì thiền định gì, nhưng Huy thì quán tưởng đến nỗi khổ đau của các chúng sinh trong cõi ta bà và sự vô thường, cái chết, và nhất là những oan hồn đã lìa đời trong một giây phút đã thất niệm.

Sau buổi lễ, Từ rủ chàng ra ngoài sân ngồi uống trà ngắm trăng.

Hai người im lặng, thưởng thức bình trà thơm lắm. Vầng trăng tròn vành vạnh, đêm đã hoàn toàn bao phủ trong bầu không khí yên lặng và bình an của tâm hồn...

Một lúc lâu sau, Huy phá vỡ bầu không khí đầy an bình tịch tĩnh ấy. Chàng nắm tay Từ hỏi.

- Em nghĩ gì thế.

Từ dịu dàng trả lời chàng.

- Em phát nguyện kiếp sau đi tu để giúp cho đời bớt khổ.

Huy mỉm cười biểu đồng tình. Đã bao lần chàng cũng khởi tâm phát nguyện như Từ. Có lẽ kiếp sau, chúng ta sẽ làm bạn đạo đồng tu xuất gia...

- Anh cũng thế em ạ, kiếp sau mình đồng tu đồng đạo nhé...

Từ mỉm cười sung sướng. Huy nói.

- Em biết trong lúc thiền định, anh quán tưởng điều gì không ? Từ im lặng lắc đầu.

Huy kể lại.

- Kiếp người... bỏ ra ngoài cái nhãn hiệu Phật giáo để nhìn thẳng vào bản chất của nó, và điều này, áp dụng thực tế cho tất cả mọi người, mọi tôn giáo, tuy rằng ta có thể nói rằng ý hướng này thoát thai từ thiền tông, nhưng rất là ứng hợp cho đời người. Anh đã quán tưởng về vô thường sự chết của những oan hồn uổng tử...

Chàng im lặng nhớ lại buổi thiền định vừa qua...

Từ nhìn Huy và hỏi:

- Thế rồi sao nữa?

Huy nói:

- Cho phép anh kể lại toàn bộ nhé. Sự quán tưởng của anh hơi dài. Xin em kiên nhẫn nghe anh.

Cuộc sống, đời người, trong tâm tư hạn hẹp thiếu chánh niệm của ta, vốn là một chuỗi dài tháng ngày vô tận, ta có 2 chọn lựa:

1. Thất niệm trong quên lãng: là ta sống triền miên trong sự quên lãng , quên lãng là ta đang sống, bên ngoài ta và bên trong ta, về ngoại cảnh quên lãng những gì xảy ra chung quanh ta, bàn tay xinh đẹp của em bé thơ thật đáng ca tụng, lá cây ngoài đường đã trổ màu xanh tươi khi mùa xuân đến, hay vàng úa khi thu về lá vàng rơi lác đác...

Tóm lại, ta vội vã ngày ngày leo lên xe đi đến sở làm và ta quên rằng…đời sống đang ở chung quanh ta.

Về nội tâm, ta quên rằng ta có những tình cảm, quên rằng ta đang sống ở trong tâm ta, rằng những diễn biến tâm lý xảy ra từng giây phút, ta không còn cảm nhận những cảm thọ trong "tâm sinh lý" quên những niềm đau hay những cái đẹp nhỏ xíu trong đời sống mà ta cảm nhận từng giây phút. Tóm lại ta sống như một người đã chết...

2. Chánh niệm thắp sáng: từ chối sống như là một kẻ đã chết, ta theo dõi đời sống bên ngoài và trong nội tâm, vui với cái vui và cái buồn, ngoài hay trong ta mà không bị chết đuối trong nó, như vậy, ta hay phát ra được cái nguồn hứng khởi trong tâm, dù là vui hay buồn...

Khi vui, ta biết là vui, phát ra tràng cười ha hả hay âm thầm trong tâm, khi buồn ta làm một bài thơ ca tụng nỗi đau của cuộc đời, của trong tâm thức, và rồi... Mọi sự trong thế gian này, rồi cũng sẽ trôi qua đi thôi, nhưng ta sống hết mình, trong trầm luân mà không trầm luân vì ta đã sống và biết sống.

Sống hết mình, cảm nhận và biết nó, và ngày qua ngày mà ta thấy rõ ta đang sống và nhận biết... sức sống tràn đấy không hề quên lãng. Sống trong từng chi tiết nhỏ nhặt của đời, diễn tả trong tâm, sống hết mình, nghe tất cả nỗi vui và nỗi đau của cuộc đời và để mắt thương nhìn cuộc đời...

Ở đây ta có thể nói thêm (tuy rằng thừa)... phải chăng đó là Quán Âm hạnh...
Phạm Âm Hải Triều Âm
Diệu Âm Quán Thế Âm
Thắng Bỉ Thế Gian Âm...


Tóm lại, rời khỏi thất niệm để trở về sống trong niềm thắp sáng của chánh niệm. Cũng tức là rời khỏi Mê tâm để đi vào tỉnh thức.

Từ nghe xong, thích thú mỉm cười nói:

- Hay đấy anh, nếu mình thực hiện được lối sống này thì khổ đau sẽ phải thối lui, và có lẽ thế giới sẽ bớt đi những bản tin buồn như mình đã đọc ngày hôm nay.

Huy cũng mỉm cười đáp lại.

- Để anh đọc em nghe bài thơ anh đã từng làm trong quá khứ và sau đó thì mình đi ngủ nhé em. Bài thơ nói về Mê tâm...

Mê Tâm

Đêm sâu thẳm, đêm chìm trong nỗi nhớ,
Trăng bên trời, trăng lặn cuối mê tâm,
Này em hỡi, trăng buồn đau mấy thuở,
Người đã xa, giã biệt buổi mây tần...

Đêm cô phận, sương la đà tịch mặc,
Trăng đi rồi, sương xuống đọng ướt mi,
Này em hỡi, đêm vốn dài vô tận,
Nhắc làm chi, tan nát cánh mây tần...

Đêm soi bóng, tâm gầy đong sa mạc,
Đếm sợi tình, trên ngọn sóng trăm năm,
Cuốn mê tâm chuyển mình, đêm trăn trở,
Cuối mê đường, trôi nổi nỗi ăn năn.


Từ nghe xong ôm Huy hôn lên má.

- Cám ơn anh bài thơ Mê tâm... Mình đi ngủ thật ngon trong một đêm an lành chánh niệm nhé anh...


Tiết Thu Phân mưa dầm sùi sụt 2012.



*Chú thích:

(1) Bản tin của báo Calitoday.com, tác giả xin trích dẫn nguyên văn như sau:

CaliToday News – Vào lúc xế trưa ngày thứ sáu 19 tháng 10, 2012, tòa soạn nhận được một cuộc điện thoại từ chuyên viên địa ốc Nguyễn Thái Hòa của Valley Realty. Anh cho biết có một thanh niên gốc Việt vừa treo cổ tự tử chết tại một công viên thuộc thành phố Milpitas, California... "Nạn nhân là cậu Henry Lê, 21 tuổi, đã tốt nghiệp trung học, nhưng không có việc làm..."


Image


10990



Image


t ạ .Ơ N .e m
____________________________________________________________________________
p h ạ m t h a n h



em vỗ ru cõi riêng ta bất chợt
mở cánh hồn khép kín cửa từ lâu
tro lạnh tàn khêu bới ngọn lửa lên
đêm tăm tối nghe ấm dòng hơi thở

góc hình hài em bên đời hiện hữu
rực máu tim tình yêu cuối rạng ngời
thoáng ở ta lòng ngây ngô oà vỡ
tạ ơn em thắp sáng nốt đoạn đời


Image


10991



Image

H À N .M Ặ C .T Ử
.... c h i ế n .s ĩ .p h ú c .â m
____________________________________________________________________________
N t H a v y



Một nhà thơ với một số phận kỳ lạ, người ta gọi ông là một nhà thơ thiên tài và huyền bí. Thơ của ông chất chứa những ấn tượng và ảo giác lạ lùng vượt qua ngôn ngữ loài người. Ông là một nhà thơ đã thành danh và không ai không biết đến ông khi nhìn thấy trăng, mấy câu thơ như đã được lưu truyền trong nhân gian:

Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
Không bán tình duyên ước hẹn hò!


Trong các thi sĩ Việt Nam, người mê trăng say trăng nhất không ai khác chính là Hàn Mặc Tử.

Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí sinh ngày 22.9.1912 tại Lệ Mỹ, Đồng Hới. Thuở nhỏ ông học trung học ở Huế, làm viên chức sở đạc điền ở Quy Nhơn, vào Sài Gòn làm báo rồi lại trở về Quy Nhơn. Ông mắc bệnh phong từ năm 1937, phải vào nhà thương Quy Hoà tháng 9 1940, rồi mất tại đó vào ngày 11.11.1940. (*)

Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ rất sớm với thể thơ Đường luật, nổi tiếng vì được cụ Phan Bội Châu hoạ thơ và đề cao. Từ năm 1935 ông đổi bút hiệu thành Lệ Thanh, rồi Hàn Mạc Tử, và cuối cùng Hàn Mặc Tử. Những tác phẩm của ông gồm các tập thơ Gái quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản khi tác giả còn sống), Đau Thương (hay Thơ Điên), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng... (**)

Hàn Mặc Tử đem đến cho phong trào thơ mới những luồng gió lạ, một phong cách độc đáo và sáng tạo: bên cạnh những tác phẩm bình dị, trong sáng, chan chứa tình quê (như bài Đây Thôn Vĩ Dạ, lấp lánh với hương màu ẩn dụ, có nắng lên, có trăng đợi, có sương khói...) đến các tác phẩm đầy những cảm hứng lạ lùng, huyền bí, thậm chí đến điên loạn như trong bài Hồn là ai?

Hồn là ai là ai tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng

Tôi chết giả và no nê vô vạn
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực.


Những bài thơ của ông phản ảnh trực tiếp một tâm hồn yêu thơ, yêu đời chan chứa, nhưng lại quằn quại vì cơn bệnh phong cùi đau đớn, dày vò ông đến cạn kiệt luôn sức sống. Thế giới trước mắt ông gần như sụp đổ tuyệt vọng, mênh mông mà chỉ có cái chết mới giải thoát được.

Và rồi cuối cùng, nhà thơ tìm về nơi bình yên trong tâm hồn mình với một niềm tin trong đạo giáo. Đó là Thiên Chúa và lòng yêu kính Đức Mẹ Maria - cách riêng, nhờ thế ông chấm dứt được bi kịch của chính mình. Nhờ thể xác đau đớn ê chề đã giúp cho linh hồn trở nên thăng hoa trong sáng, nhờ đôi cánh của tôn giáo được chắp cánh thêm vào ý tưởng cho thi nhân. Ông trở thành một chiến sĩ Phúc Âm và thơ của ông chiếm một ngôi vị rất cao trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam. Người chiến sĩ ấy đã một lần cao giọng ngâm:

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!
Run như run thần tử thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng.
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến.



Bài thơ đó đã trở thành một trong những trường ca bất hủ của Hàn Mặc Tử đã được Nhạc sư Hải Linh đem vào trong ca khúc Ave Maria

Năm 1994 Trường ca Hàn Mặc Tử được nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác dựa vào 9 bài thơ của Hàn Mạc Tử và đúc kết bằng một ca khúc vút bay từ cảm hứng thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu trong bài Thánh Nữ Ðồng Trinh Maria:

Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì! Phượng Trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thấu
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.


Vạn hào quang đó đã chiếu ngời trong thơ của ông mặc dù nhà thơ tài hoa bạc mệnh đó đã sớm ra đi. Nhà thơ Hàn Mặc Tử và trại cùi Quy Hoà vẫn mãi được người đời nhắc nhở và chiêm nghiệm những vần thơ của ông, ông là một linh hồn vượt khỏi cõi nhân gian. Ở thơ của Hàn Mặc Tứ luôn sâu đậm tình yêu: yêu đời, yêu Thiên Chúa và tha nhân với cả tấm lòng say đắm và khao khát sống.



(*) Viết theo một số tư liệu sưu tầm về Hàn Mặc Tử
Image


10997



Image

.n h ớ .n h ữ n g
M Ù A .T R Ă N G
____________________________________________________________________________
h o à n g y ế n



Có những mùa trăng tuổi ấu thơ,
Nô đùa trước ngõ dưới trăng mờ,
Mình tay nắm lấy tay bè bạn,
Quên hoàng hôn đến tự bao giờ.

Có những mùa trăng tuổi thiếu niên,
Quê nghèo khói lửa cứ triền miên,
Nửa đêm đại bác vang rền nổ,
Gió bụi tung bay tắt lịm đèn.

Có những mùa trăng tuổi ngọc ngà,
Em là cô giáo dạy trường xa,
Thương người lính trận lâu về phép,
Nhớ người yêu bên nỗi nhớ nhà.

Có những mùa trăng tuổi hẹn hò,
Thương nhiều mà chỉ gặp trong mơ,
Anh người trai giữa thời ly loạn,
Đi mãi! Người yêu vẫn đợi chờ.

Có những mùa trăng thôi chiến chinh,
Ngỡ rằng đất nước hết điêu linh,
Ai xui tan tác chia ly mãi,
Đất khách nhìn trăng khóc một mình.


Image


10998



Image

L Ắ N G .N G H E .T H U .V Ề
....... h á t .g i ữ a .c õ i .n h â n .g i a n
____________________________________________________________________________
* Kính dâng những người mang chiếc áo cô đơn Tuổi trẻ,
đem Lý tưởng & Tình yêu dấn thân vào đời...

Cư sĩ Liên Hoa
(1951 - 2012)



Thu mang những lớp phù vân
vương tràn tia nắng, gọi lời trùng khơi
ồ kìa hạt bụi tuôn rơi
hình như đời vội quên chăng lối về

đường xa ngàn lối rong chơi
cỏ xanh mờ khuất đỉnh đồi tinh sương
vạn lời gọi gió vàng hương
nhân gian mở ngõ, đón thu trở về...


Mưa thật nhiều suốt đêm qua, những ánh chớp loé sáng, vẫy vùng trên bầu trời như rượt đuổi nhau với những nụ cười sáng rực. Mưa trút xuống dù không mời gọi, như réo rắc, mang âm thanh rì rào giữa đêm khuya, vọng vang đến những tấm lòng muốn vươn cao lên trên cuộc sống, phiêu lãng, vô thường. Anh đó ư? em đó sao? Chúng ta là ai trên cõi đời hay chỉ là những thân phận nhân sinh mỏng manh đi hoang trên hành tinh, vất vưởng tìm lại mảnh tâm, những tiền kiếp gợi hình, đổi dạng. Bản nhạc mưa hoà tấu cùng cơn lạnh, hình như làm thấm thiá đến tận cùng cõi lòng hoang vắng, khiến trời cũng đổi tánh, mang hơi lạnh buông toả ra, làm cho nghĩ đến những phận người bấp bênh trước đời sống, lầm than đi dưới cơn mưa tầm tã vì cuộc mưu sinh, chợt nghe tim mình thót lại, day dứt, xót xa khôn nguôi.

Có mùa mưa hối hả lúc đêm qua
Cùng cơn lạnh, vô tình bày cuộc tiệc
đời chơi vơi, từng chân bước đơn côi
trong hoang vắng, dấu chân vang lời hát

kìa em bé, nhìn mưa, lời tha thiết
phận con người, sao ướt lạnh xót xa
trái tim em mong giở cõi ngục buồn
xin rải xuống hoa từ bi ấm đẹp...


Cuộc phù sinh với những cơn huyễn mộng, nhưng là đời người mà, nên tự bản chất là phải có khổ đau, có hạnh phúc, có vui có buồn, có ưu tư, có nông nổi…thể hiện cho kiếp nhân sinh trên bước đường sinh tử. Người từ thưở ra đi, vào cơn gió bụi, bụi của mưa, của gió hay là dòng nước mắt buông rơi. Không phải là chúng ta từng đi đếm những giọt nước mắt khổ đau của đại dương, được nhân lên qua vô lượng kiếp, để tìm lối về trong cơn mộng của thân năm uẩn. Hãy hát vang lên khúc hát ngàn xưa, nối lại tâm tình đứt khoảng khi mộng mị bủa vây, để thắp sáng ngọn đèn của chân tâm, nhìn rõ thực tại, thấy lại nụ cười hiền hoà của đức Phật vẫn hằng có mặt trong tự tâm.

Người con Phật trước bao nhiêu sóng gió của cuộc đời, vẫn là người biết hát ca, hát rong vang lên trên đường đời, để nghe rõ tiếng của nhẫn nhục, tiếng từ tâm … luôn thôi thúc, sống vững vàng trong tâm, để bước chân đời không vấp ngã. Tiếng hát đó có thể là âm thanh bảng lảng, thể hiện tâm tư, vút cao lên hoặc có thể là tiếng hát toả dịu ra trên đôi mắt, nhìn, quán chiếu vào nội dung của Phật chất hay là sự im lặng tịnh thanh.

Buổi sáng nay, sau thời Thiền toạ, hình như Thu đang có mặt, đâu đây. Tiếng chân Thu long lanh kỳ diệu, có hương thơm của lá vàng, ngọt ngào của sự chuyển mình, biến hoá và lắng nghe lại tâm mình, cảm nhận những bâng khuâng, trăn trở vẫn còn dày đặc. Những bước chân hoang trên cuộc trần thế, mở ra những con đường đi bất động trước những vô tình, hoang vắng. Những ưu tư về cuộc đời là giây phút kéo lại cái tâm muôn trùng nổi sóng. Lặng yên để chuyển động và từng cơn sóng vỗ, để rồi tịnh lặng, sinh diệt, vãng lai. Đi tìm cảm thọ qua những phóng ảnh của mình, tìm hình bóng của những vọng tưởng rã rời, tìm những phù du trong cuộc đời hiu quạnh

Ta về ru lại nhân gian
Nghe thu giũ vỡ, vẫn hoài giấc mơ
Lá vàng vừa chớm nụ thơ
lời thưa sắc giới, còn mang cuộc đời

bên kia đỉnh núi trăng lơ
em mang hạt bụi trên tầng mộng say
ngồi ôm viễn mộng mây bay
âm thanh vô tự đón mời chân tâm...


Tiếng khóc chào đời để tỏ lộ một hữu tình có mặt, một mối tình thủy chung, với những nghiệp lực vương mang từ quá khứ đem về hiện tại, để tạo thành nhân dáng, tánh tình, suy tư, cuộc sống. Trong Kinh Pháp Cú, đức Phật dạy rằng: “Muốn biết kiếp quá khứ ra sao, hãy nhìn đời sống hiện tại. Cũng như muốn biết đời sống tương lai, cũng nhìn vào những gì làm của hiện tại” (Dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị. Dục tri lai sinh quả, kim sinh tác giả thị).

Và mỗi người khi lớn lên, có sự suy tư về thân phận con người, đều mong muốn đi tìm đáp án cho cuộc đời, trước biết bao nhiêu là ẩn số, biến dịch…Ai là không mong ước được hạnh phúc, giàu sang phú quí, sức khoẻ sung mãn... nhưng rồi, khi nghiệp lực có mặt như cơn gió - có thể là gió thoảng, có thể là cuồng phong vũ bão, đã làm cho cuộc đời có nhiều biến chuyển, để cho người lãng tử đứng lặng mình trước cuộc phù du và hỏi rằng: cuộc đời là gì?

Vào những năm đó... Đất nước tôi đang có chiến tranh. Không khí chết chóc lẫn thanh bình chen chân có mặt, giành giựt nhau, nhưng mọi người ai nấy đều cần phải sống. Khi trong mùa thi cuối năm, tôi thường đến một ngôi Chùa lớn tại giữa trung tâm Saigon, tìm chỗ thanh vắng để ôn bài thi. Mặc dù là nằm gần nơi đại lộ, thị tứ, xe cộ tấp nập, tiếng xe tiếng còi thường réo vang, nhưng bên trong khuôn viên ngôi Chùa nầy, cảnh trí lại thanh tịnh, im lắng.

Hai bên hông của ngôi Chùa, được tạo cảnh rất là đẹp, theo hình dáng cây cảnh bonsai của Nhật bản. Không gian yên tĩnh, có bụi trúc vàng, có nước chảy róc rách, có hồ nước trong vắt, có những con cá vàng lượn lờ dưới nước. Những cánh chim xoè cánh, bay sát mặt nước, rồi bay lên đậu trên cành trúc, cất tiếng hót, hoà ca, khua động không gian. Ôi, cảnh đẹp và thanh bình quá.

Cành trúc lá vàng
Đong đưa trước gió
Khi tâm bỏ ngỏ
giọt nước nhỏ to

em từ cơn gió
bay ngược dòng đời
hỏi nhau lối nhỏ
đỏ mắt đi tìm

bờ tâm quên ngỏ
bỏ ở chốn nao
dưới chân em, gõ
con nước bóc vỏ

vỡ hạt sen nhỏ
có phải em là...


Có những ngày, ngồi ôn bài thi từ sáng đến chiều, để bên cạnh chỗ ngồi là ổ bánh mì, bình nước uống. Tôi đã có những ngày đẹp tại nơi chốn nầy, vì mỗi ngày khi trở về nhà trọ, hình như đều mang theo mình một cái gì đó nên thơ, ấm áp, khó diễn tả. Tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng mộc bảng, tiếng chuông đại hồng, lời kinh sáng chiều... có mặt trong tâm tôi, thật là gần gũi, thân thương.

Cũng ở nơi đây, tôi đã gặp vị Thầy trẻ học cùng trường và đã bị vô thường đem đi khi tuổi còn rất trẻ, với lý tưởng vẫn còn mang nặng trên đôi vai. Trong bài viết "chiếc áo cô đơn" ghi lại năm nào, tôi đã quì xuống trước di ảnh của Người và đã khóc.

Cũng ở nơi đây, sau nhiều ngày đến tìm chỗ yên tịnh để ôn bài, học thi, tôi lại được duyên lớn là quen biết vị Tôn Túc lớn của Phật giáo - Thầy Thích Thanh Kiểm. Có lẽ, vì chỗ tôi hay ngồn ôn bài thi, lại gần Thất và Văn phòng của Thầy và ngày nào cũng thấy người học trò nầy đến, nên chắc có cảm tình. Biết Thầy có dạy "Cắm hoa Nhật bản" tại phòng lớp học được mở sau lưng Vãng Sinh Đường, tôi cũng có tham dự học, biết chút chút, nhưng lại không giỏi gì. Những lúc ngồi chán, đứng dậy, cầm quyển sách trên tay, đi tới lui để giản gân cốt, vừa đi vừa lẩm nhẩm đọc bài... gặp Thầy, tôi chắp tay xá và đón nhận nụ cười Từ bi của Thầy.

- Con ráng học và phải thi đậu nha. Nước mình chưa có thanh bình, chiến tranh vẫn còn. Rớt thì phải đi lính...

Thầy bỏ lửng câu nói, như một lời nhắn nhủ, khuyến khích, chia sẻ và như một cái gì chứa đầy ắp tình thương, nhưng đượm màu chua xót.

- Dạ, con cám ơn Thầy...

Những lúc thấy tôi không có cắm cúi học, mà đi lòng vòng. Thầy gọi lại và kể vài câu chuyện về Phật Pháp, có ý nghĩa tâm linh rất hay, để chỉ dạy và cũng không hỏi là tôi theo tôn giáo nào.

Một hôm, tôi xin gặp Thầy và trình lên Thầy một bài viết trong quyển tập học sinh. Bài Tiểu luận dài mấy chục trang... nhờ Thầy đọc và cho ý kiến. Thầy ngạc nhiên, nhìn tôi và mở trang đầu ra đọc: “Mật nghĩa Kinh Di Đà”.

- Mật nghĩa Kinh Di Đà. Ủa, bài nầy ai viết. Con viết à? Như vậy, gia đình con là Phật tử? Mà làm sao, con lại viết được một đề tài lớn như vậy, trong lúc mỗi ngày, Thầy đều thấy con đến đây để ôn luyện bài thi mà?

- Dạ! Thầy hỏi nhiều làm con hồi hộp và run quá Thầy à. Những trang giấy nầy được con nghiên cứu và viết vào lúc đêm về, khi chỉ còn lại một mình, yên lặng. Cảnh chùa, hình dáng của Thầy, lời Kinh mà con lắng nghe được khi đến đây, như một động lực nào đó, kéo con gần với đạo Phật và con viết... Không biết có đúng với tư tưởng của đạo Phật hay không?

Hai Thầy trò đều im lặng, nhưng tôi biết chắc là Thầy rất ngạc nhiên về tôi, mà chính tôi, tôi cũng ngạc nhiên về chính mình, là làm sao tôi lại vượt qua đoạn đường dài như vậy?

Vài ngày sau, Thầy trả lại tôi quyển tập, và đưa ra lời nhận xét rằng:

- Con viết rất hay, đúng lắm khi đưa ra những nhận thức về Phật giáo, nhưng chỉ thiếu dẫn chứng từ Kinh sách. Một bài viết có giá trị nghiên cứu, cần phải có sự dẫn chứng, rõ ràng, tương ứng, để chứng tỏ đó là những luận giãi từ Kinh... Mà sao con lại thích thú với Mật nghĩa của Kinh Di Đà? Có thời gian, con cũng nên nghiên cứu thêm với tinh thần của tuổi trẻ. Phật giáo cần được dấn thân, đem vào đời với sự sống, vì đạo Phật là đạo sống, hoàn thiện con người mình và người. Cõi Tịnh độ cũng còn có nghĩa là thiết lập nơi trần gian nầy...

Cõi Tịnh độ còn có nghĩa là được thiết lập ở cõi Ta bà. Lời của Thầy như một công án đối với tôi, người mới tập tễnh bước vào đạo. Nhiều khi, trong đời sống có quá nhiều khổ đau, bất hạnh... mà con người phải gánh chịu, khiến dễ nhàm chán đời sống, và mong mỏi được đi về nơi chốn nào đó, nơi không có khổ đau, không có nước mắt buồn rơi, chỉ thuần là an lạc, hạnh phúc.

Người ta chỉ nhìn thấy mùa Thu thật đẹp, có lá vàng, vàng lợt, vàng sậm. Có lá vẫn còn bám trên thân cây, có lá rơi tả tơi nằm trên đất, lay động theo từng cơn gió. Lá của sắc màu, lá của chuyên chở, của tâm tình, của lúc ngồi lặng yên, cất lên lời hát, của lúc thổn thức đau thương, vui buồn, của những trường giang sóng gió, của đất trời chấn động, của cơn giông bão, của hạt mưa rơi, của nóng giận tử sinh, của từng mùa réo rắc v.v... đã và đang ẩn chứa trong Thu, để Thu thực hiện hạnh kham nhẫn, đem cho đời những hình ảnh thật là đẹp.

Thu đẹp quá, mảnh mai vàng mỏng như người con gái lúc đợi chờ, như cánh chim bay lượn trên chiếc cầu ảo vọng, có mây trời trôi, có bước chân trên cõi đời, thầm khẽ, rung động, nhặt lên những màu mỡ của ước mơ...

Có phải tà áo em bay trong gió
chở hương thơm ngây ngất buổi trời mây
hay nước mắt ngỡ ngàng trên vai nặng
mỗi lá rơi, vàng sậm cả cõi lòng...


Và người ta ca tụng, làm thơ văn, chiêm ngưỡng, tán thán. Mùa Thu là mùa đẹp nhất trong các mùa, trong trời đất, nhưng, những ai đang tâng bốc Thu trên cao của cõi đời, có bao giờ biết được nỗi lòng hy hiến của Thu, để cho chúng ta được thưởng thức các sắc màu tuyệt diệu. Chúng ta đang là Xuân mà, sao lại bỏ ra đi, để về nơi bão lửa, sa mạc với cơn nóng cháy của mùa Hè, bỏng da cháy thịt, để quay quắt trong mình những rã rời, hoang vắng. Ánh mắt Thu đượm buồn như nỗi sầu của thế kỷ, của vô tận, đi vào đời, để rồi chìm mình trong cơn lạnh giá của Động. Thu là đoạn đường đã qua với nhiều bi hài kịch, Thu cũng là bước đi nối tiếp với nhiều hy hiến, dâng tặng. Tại sao không ai nhìn thấy Thu trong giây phút hiện tại, nhìn vào chiều sâu vô tận của đáy tâm, có sự nhẫn nhục, để chia sẻ cùng Thu.

Nhận thức cuộc đời là Khổ, người con Phật vẫn đi vào đời với những tư lương hạn hữu, để đối diện với cuộc đời, mong tìm sự chuyển hoá khổ đau, bất hạnh. Nước mắt có tuôn rơi, khổ đau có mặt, nhìn lại tâm mình, quán chiếu và nhận được chất liệu trưởng thành, lớn mạnh, vững vàng, an tịnh, giải thoát có trong các khổ đau.

Những người mang chiếc áo cô đơn, chiếc áo hoại sắc như tấm lòng của sắc màu của Thu, đối với cuộc đời, với nội tâm là một chiến trường kỳ diệu, vinh hiển "chiến thắng vạn quân, không bằng tự chiến thắng mình". Chiếc áo đó là cả một tấm lòng cao rộng, an nhiên, thư thái, chịu đựng, thử thách, bỏ rơi những hạn hẹp thường tình, để mở rộng cõi lòng với Tuổi trẻ trong sáng, với Lý tưởng cao vời vợi và với Tình yêu tràn ngập, bởi Từ bi và Tuệ giác có mặt.

Có lúc nào chúng ta lắng nghe lại tiếng của Lăng Nghiêm trong một buổi khuya lắng đọng, nghe lại lời của Ngài A-nan trước đức Phật sau cuộc bể dâu của tâm...

"Con nguyện chứng thành đạo quả, hoá độ chúng sinh, để báo ân Phật. Xin Ngài chứng minh cho con. Trong đời ác năm trược, con xin nguyện dấn thân vào trước, nếu như còn một chúng sinh nào chưa thành Phật, thì mãi mãi trọn kiếp con cũng không vào cảnh giới Niết Bàn"

(Nguyện kim đắc quả thành Bảo vương, hoàn độ như thị hằng sa chúng, tương thử thân tâm phụng trần sái, thị tắc danh vi Phật báo ân. Phục thỉnh Thế tôn vị chứng minh, ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sinh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn...).

Lời kinh đó như là bài thơ tuyệt đẹp, đánh động và rung chuyển tâm thức của con người, để rồi dám hy sinh tất cả cho lý tưởng, vào đời, tạo thành một đạo Phật dấn thân, thiết lập cõi Tịnh độ trên cõi nhân sinh.

Người mang chiếc áo cô đơn đó, là người nhận thức được Tánh Phật có mặt trong tâm, và thiết lập sự giao thông giữa tâm và tâm, thể nhập để nhập thế, nhập thế để thể nhập, tương tức tương nhập, để làm hiển lộ Từ bi và Tuệ giác, bộ mặt thật của muôn đời. Người đó trở thành khiêm cung như mùa Thu, nói với tâm mình với Tam đề: "Nguyện không làm điều ác. nguyện làm tất cả việc thiện. Nguyện cứu độ tất cả chúng sinh"(Nguyện độ nhất thiết ác, nguyện tu nhất thiết thiện, nguyện độ nhất thiết chúng sinh) và Năm quán với tương quan giữa người và người, vạn vật: "Công ơn Phật, Thầy Tổ, cha mẹ, mọi người trong xã hội... để có vật thực nầy. Xét lại phẩm hạnh để thọ dụng phẩm vật. Tránh không để tâm tham đắm, mà chỉ xem đây là lương dược để có sức khoẻ, thực hiện lý tưởng thành đạo" (Nhất - kể công đa thiểu, lượng bỉ lai xứ. Nhị tổn kỳ đức hạnh, toàn khuyết ứng cúng. Tam phòng tâm ly quá, tham đẳng vi tâm. Tứ chánh sự lương dược, vị liệu hình khô. Ngũ vi thành đạo cố, đương thọ thử thực).

Thu đã tràn về trên chiếc áo, tung bay trong gió ngược chiều, trước những cơn gió của thành bại, vinh nhục, được thu, hơn kém... để tô đậm thêm màu áo của sở nguyện vì đời, thiết lập tương giao, để thực hiện cõi Tịnh với Phàm Thánh đồng cư, để báo đáp bốn ân.

Trong Kinh có nói: "Đức Phật thường dạy rằng : Tất cả Pháp đều do nhân duyên sinh và cũng do nhân duyên diệt" (Chư pháp tùng duyên sanh, diệc tùng nhân-duyên diệt, Ngã- Phật Ðại Sa-Môn, thường tác như thị thuyết) để nói lên sự tương duyên tương sinh giữa vạn hữu, và cũng nói đến tâm nguyện của người nầy vì người kia và ngược lại, trên bước đường sống của đạo Phật, vì con người và vũ trụ, đều liên hệ lẫn nhau, trong sự thể nhập vào Phật Tri Kiến.

Trong một bài viết năm 2000, nhân khi đọc Kinh Pháp Hoa, tôi chợt có những cảm xúc và đã ghi lại:

"Trên cao, ánh trăng mười sáu mủm mỉm cười rực rỡ. Mảnh trăng đã chín vàng, trưởng thành sau một đêm rằm ngời sáng, nên tròn trịa như tâm địa giác ngộ."

Gặp tuổi thơ, một thoáng đời của quá khứ vô hình lại là hiện tại. Quá khứ là hiện tại và tương lai cũng bồng bột trong hiện tại. Phải có tâm “trống không” mới cảm nhận được bước chân tung tăng của trẻ thơ trên cánh đồng cỏ non, mới đủ vững mạnh để đôi tay ôm ấp cả hư không. Phải thực hành miên mật, phải có niềm tin chắc chắn rằng “tất cả mọi người đều có Phật tánh” và mình sẽ là vị Phật tương lai, hằng sống hoài với Tri Kiến Phật thì mới hiểu thấu được thọ lượng hay Pháp thân Thường trụ của Đức Phật theo “Khai tích hiển bổn”, và trực nhận ra sự chuyển mình kỳ diệu của Long nữ trong phẩm thứ 12 , Đề-bà-đạt-đa của kinh Pháp hoa.

LONG NỮ

Hỡi em! khi gió tràn về
con trăng mười sáu rạng ngời trên cao
tuổi thơ nào chỉ hôm nầy
tung tăng chạy nhảy, cánh đồng cỏ non

Trăng đùa ngọn lúa nội đồng
gió đưa hương thoảng phương trời đồi xanh
đôi tay ôm ấp hư không
tóc mây tung xõa, nụ cười thiên thu

Đôi tay em khéo vun đầy
hiện thân nam tử hiễn bày tánh không
chơn như nào chút vướng trần
chuyển từ Long nữ, Trượng phu tướng đầy

Bước chân sen nở nhiệm mầu
mười phương hoa trổ trải dày thảm “không”
đàn thiên trổ khúc hoan ca
hóa thân lượng kiếp, lúc nầy nào hai. (2001)


Cuộc sống hiện nay có muôn vàn sự đau khổ, đổi thay, diễn dịch không ngừng, có mặt khắp mọi nơi nơi. Lò lửa của tham sân si luôn luôn chực cháy bất cứ lúc nào. Lời nguyện xưa của người dấn thân vào đời, mong chuyển hoá, làm đẹp cho cuộc đời, vẫn còn nồng cháy mãi. Hoá thân vô lương kiếp, kiếp nầy nào hai, trên thảm cỏ “không tánh”. Trong mỗi con người chúng ta, dù với bất cứ hình dạng nào, thì Tánh Phật vẫn tròn đầy, chỉ cần “quay đầu hồi ngạn”, bến bờ có đó.

Mùa Thu đã mang áo nhẫn nhực, điềm nhiên, tự tại và thiền định trong sư chuyển hoá để cho đời những hình ảnh sẻ chia thật đẹp. Giá trị đích thực của cuộc chuyển mình, đặt nặng trên mình Thu, như đặt gánh nặng trên vai của Tuổi trẻ, Lý tưởng và Tình yêu, vì cuộc đời. Đau khổ làm chúng ta trưởng thành, có giông bão làm chúng ta gần gũi nhau, để chia sẻ tình thương và hạnh phúc, bất hạnh tạo thành tiếng nói chung để bảo vệ môi trường, môi sinh, sinh mệnh con người. Tất cả mọi triết thuyết đều không có giá trị bằng sinh mệnh con người, và tất cả muôn loài đều có mặt trên vai người mang chiếc áo cô đơn, trong cái tâm mở rộng, trọng bốn ân, tri ân và báo đáp... và nguyện lớn được nuôi dưỡng, thao thức...

Bàn tay đó trở thành Thiên thủ
hạnh Viên thông chuyển hoá mê tâm
tai lắng nghe giúp đời qua bể khổ
đôi mắt tỏ đưa người về nẻo sáng...


Chúng ta từng đi đây đó để tham vấn Phật Pháp và tu học. Chúng ta cũng từng được trao tay cho đèn tuệ đang thắp sáng, có an lạc, có hạnh phúc, có từ bi... nhưng, cõi Tịnh độ được thiết lập, không phải là nơi chốn nào đó, mà trong tâm mỗi người, và cần được đem về nhà để thắp sáng, san sẻ cho những người chung quanh. Không có bất kỳ vị Thầy nào muốn cho người hành giả chỉ thắp sáng ngọn đèn Tuệ chỉ ở nơi chốn tu học, mà cần phải thắp sáng mãi và ở mọi nơi chốn, vì đạo Phật là đạo sống, sống trực tâm, sống thực như lời đức Phật dạy. Nếu quên điều nầy, bám víu vào địa dư, không gian, hoàn cảnh v.v... mà khi trở về với tâm, về với người thân, gia đình, mà ngọn đèn tuệ bị tắt ngủm trên đường, thì sự đau khổ và bất hạnh, bất an vẫn luôn còn mãi trong ta và ảnh hưởng đến người chung quanh, dù là chúng ta có mang tâm nguyện chia sẻ. Gia tài không có, ta không thể chia sẻ, đùm bọc được cho bất cứ ai, để cùng chung hưởng.

Chúng ta thường than thân trách phận, nghiệp lực nặng nề, nên đời sống quá nhiều khổ cực, lo toan, nhiều khi mất ăn mất ngủ... như tôi vẫn thường có, để rồi kêu gào lên “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi suốt trăm năm một cõi đi về...”, trong khi thực sự là chúng ta không đi, không về, mà đứng một chỗ, không biến hoá, chuyển tâm, nên ôm trong mình những khổ đau, bất an, không tự tại. Sự trở về là lòng kham nhẫn, xả ly, sống hiện tại trên đôi chân trần, nắm tâm trong chánh niệm và trong từng giây phút hiện tại, thì cõi bất an, vọng niệm sẽ không có mặt, còn chăng là cõi đi về chân thật, ý nghĩa, sống thực, hoàn thiện chính mình và người.

Nằm trong bối cảnh của mùa Lễ Tạ Ơn, sống động bởi sư khuyến khích mua sắm, tiệc tùng v.v…Người con Phật chia sẻ với Mùa Lễ, vì trong mỗi người con Phật đều hàng mang nặng bốn ân với cuộc đời. Nhưng sự tàn sát các sinh vật còn đó, lũ lụt còn đây, thiên tai, nhân tai, động đất, chiến tranh vẫn còn rền vang mãi ở mọi nơi và ngay chính trong tâm mọi người, với bao nhiêu là “điên đảo mộng tưởng” gây thành thảm cảnh bi đát cho nhân loại. Xin thành kính cầu nguyện cho:

- Thiên nhiên được bảo vệ, môi trường được xây dựng, rừng xanh được trồng lại, tạo thành không khí trong lành cho vũ trụ.

- Lò lửa chiến tranh được dập tắt, mọi hận thù đều không có mặt để cho nhân loại sống được an lành, hạnh phúc.

- Bữa ăn trên bàn của mọi ngưòi giảm thiểu sinh mạng của các loài sinh vật, để cho trái đất được ấm lại, mọi loài đều thong dong.

- Cầu xin cho giáo Pháp của đức Phật được lan truyền khắp mọi nơi chốn, và cùng chung các tôn giáo khác, đem tình yêu thương thực sự để cứu giúp nhân loại qua cơn bỉ cực, và đem trí tuệ để chỉ rõ đường mê, về nẻo chánh... thoát khỏi khổ đau.

Thưa bạn, là người học hạnh yếu kém, biết được chút ít về Phật Pháp so với rừng giáo Pháp bao la. Tôi cũng đã từng đau khổ, bất hạnh và khóc. Có người hỏi là: Anh mà cũng khóc nữa sao? Thưa vâng, tôi còn khóc nhiều hơn ai tưởng, nếu có hồ chứa, sẽ đong đầy, lai láng như nước của biển hồ. Tôi cũng từng than thân, trách phận, buồn phiền, mất ăn mất ngủ. Xin đừng hỏi tôi là anh mà cũng như vậy ư? - Đúng, may mà không ngăn bờ đấp đê lại, nếu không cũng sẽ gây nên nhưng cơn địa chấn, động đất.

Nhưng, nước mắt đã rửa sạch đôi mắt để nhìn tỏ cuộc đời vô thường và nước mắt cũng tưới tẩm cho mảnh đất tâm được mầu mỡ, tăng trưởng hạnh lành, khơi dậy Phật chất có mặt, dù là còn hạn hẹp, ốm yếu. Những sự bất an làm cho bừng tỉnh qua suy niệm, quán chiếu, thiền định để nhìn rõ mặt mũi khổ đau. Tuy nhiên, vì là người ít học, xin được ghi lại những lời thô thiển tự đáy lòng, và trong tâm vẫn hoài mang lý tưởng làm được gì đó cho cuộc đời, nhưng do vẫn còn nhiều khiếm khuyết, nên những dòng chữ ghi lại, dù là có là gì hoặc không trung thực với chính con người mình, nhưng vẫn như là một ước muốn, lòng mong mỏi, hy vọng của một con người muốn thực hiện. Xin được mạn phép, kính chia sẻ cùng tất cả mọi người, nhân ngày Lễ Tạ Ơn (Happy Thanksgiving)- dù bạn có đồng ý hay không, với tấm lòng quí kính, trân trọng và kính chúc tất cả mọi ngưòi tìm được Tánh Phật trong mình, để sống đời sống An lạc & Hạnh phúc cho mình, cho gia đình và cho thiên nhiên...


Thành kính chia sẻ và ước vọng

Viết xong ngày 25 tháng 11 năm 2010.
Ngày Lễ Tạ Ơn ( Happy Thanksgiving )


Image


11000



Image


.....n g h i ệ p. t r ổ
____________________________________________________________________________
c h i ê u h o à n g



Ta gặp em từ muôn ngàn kiếp trước,
Bằng sợi chỉ vàng ta đã trao nhau
Lời ước: "Nguyện cho những kiếp sau
Hẹn gặp lại. Và muôn đời vẫn thế..."


Nhưng kiếp sống thăng trầm, nhiều dâu bể,
Đổi hình hài theo những quả khổ đau,
Nay bỡ ngỡ ta lại gặp được nhau,
Tâm phân biệt, không thể gần nhau thêm bước nữa...

Dù vẫn biết, tình chúng mình muôn đời vẫn tha thiết,
Nhưng con tạo vẫn xoay vần, tình thế đã đổi thay...
Tôi và Em, cơ duyên gặp nhau đây
Bao ngỡ ngàng, bao yêu thương, hờn tủi...

Nay chúng ta cùng đi chung một lối,
Cùng muốn dấn thân vào Bồ Tát Đạo thênh thang,
Duyên nghiệp sâu dầy, đầy dẫy những trái ngang,
Em có quyết phải dấn thân trả hết?

Này em hỡi,
Từ nay cho tới chết,
Em có toàn quyền quyết định cho tương lai..


Image


11001



Image

P H A .L Ê
____________________________________________________________________________
ấ u t í m



Trong veo
Dễ vỡ
Vỡ
Đau quá Crystal ơi!
Mảnh vỡ Crystal để lại
cắt tim Mẹ, cắt lòng Bố, cắt ruột Em
xâm lấm tấm trên da bác
Crystal ơi – Crystal ơi!
Maria Crystal Nguyễn Như-Thảo
À há, con đang làm gì đó, bác đến con không ra chào!
Bác không tin, nhất định không tin điều bác nghe trên điện thoại: “Thảo mất rồi!”
Mất là sao? Con bé xinh xắn hai mươi tuổi đầu như nụ hoa vừa chớm nở, giọng nói líu ríu như chim, bác hay nhắc, nói lớn lên bác mới nghe được! Mất! Không còn nữa! Vĩnh Viễn ra đi!
Tiếng Việt có những chữ bàng hoàng sửng sốt, đau lòng, đứt ruột, nhói tim, bác không tả ra được cảm giác trong lòng của bác, trong tim trong dạ của bác, vì lúc ấy tất cả không một cảm giác nào tồn tại, bác có nghe tiếng bác thét lên, bác có ngồi sụp xuống đất, bác có òa khóc, không gọi rõ được tên của con, rồi sau đó là hết, không còn gì bên trong xác thân của bác nữa.
Ngồi trên máy bay, nhìn những đám mây trắng lơ lửng, bác có khóc hai lần, nước mắt tự nó tuôn ra, và ngực của bác thổn thức, bác không khóc cho con mà khóc cho mẹ, bác nhìn thấy mẹ con, người em gái út của bác, bác nghĩ sự đau lòng của người mẹ dành cho đứa con gái yêu quý, hẳn gấp ngàn lần lòng bác đang đau.
Như Thảo của bác ơi! Ngày bác đến Mỹ con đang nằm ngoan trong bụng mẹ, hai mươi năm trôi qua, bác nhìn con lớn từng năm, nhìn con trưởng thành, từ con bé tí teo hay khóc nhè đến con bé mặc đầm hồng đi học mẫu giáo. Khi con lên trung học, biết để tóc thề, đi dạy học Việt Ngữ, con còn nghĩ ra những câu chuyện cười duyên dáng chữ Việt xen lẫn chữ Mỹ để kể bác nghe. Chiếc bàn hai bác cháu cùng làm bánh, con đòi bác dạy đủ thứ, bánh bao chỉ, bánh trung thu, bánh khoai mì. Mới hôm lễ Tạ Ơn, một mình con đứng bếp đãi tiệc cả gia đình, chiếc bánh táo thơm phưng phức, khay khoai lang ngọt ngào con phủ hạt dẻ nướng rám nâu duyên dáng.
Như Thảo của bác, có lần bác trả lời con về chữ NHƯ, và nói hai bác cháu mình không là hoa, không là cỏ, chỉ giống hoa giống cỏ vậy thôi. Con cười bảo: Bác giống hoa nên hay cười, con giống cỏ nên hay giận!
Những điều nhỏ nhặt bác nhớ đến con nhiều vô số, không kể ra hết được. Hai tuần trước trên face book, hai bác cháu vẫn còn viết với nhau cơ mà!



Bác đang ngồi trong phòng của con, trước bàn phím con đã dùng, ngày con chào đời cất tiếng khóc đầu tiên trong nhà thương mẹ con đã chịu đựng đau đớn vì bị mổ, mẹ con nghiến răng khóc, hôm nay bác cũng thấy mẹ con khóc, đôi mắt cạn nước khô đỏ, bố của con mắt cũng khô đỏ, bậc sinh thành nào không khóc vì mất con Thảo ơi! Chiếc áo dài trắng cài hoa, mẹ dẫn con đi mua hôm nào, còn mới nguyên con chưa có dịp mặc, mẹ mang ra cho bác ủi để diện cho con lần cuối, bác nuốt nước mắt bao lần, có ai nghĩ ra bác phải ủi áo cho con mặc như thế này không? Trong lòng bác ước gì bác đang ủi cho con nếp áo ngày cưới.
Bác bật khóc không sao kềm giữ được, khi chọn mua chiếc áo quan cho con, có điều gì nghịch lý hơn không hả con? Bác đang trách con nhiều quá Thảo nhỉ, càng trách con bao nhiêu bác càng biết ra bác yêu con bấy nhiêu, ai mà không yêu thương con được chứ, đứa cháu gái hiền lành duyên dáng, lúc nào cũng nghĩ đến người khác, chẳng nghĩ gì đến phần mình. Con làm bao nhiêu việc công ích từ dạy Việt Ngữ đến xung phong đi giúp các hội chợ gây quỹ, các đoàn thể sinh hoạt cộng đồng, nơi nào cũng có con góp một bàn tay.
Như Thảo ạ, bác ngưng bao nhiêu lần, không thể nào trải hết lòng bác ra trên mặt chữ, dù bác biết con bây giờ đang thênh thang bay bổng một nơi thật đẹp, thật bình an không lo âu không khổ sở, đây là điều bác dùng để an ủi chính bác lúc này. Bác tin con đang đi đến nơi tràn đầy hạnh phúc – tràn đầy bình an.
Bác đã nói cho con nghe, bác yêu con, nay bác lập lại lần nữa bác yêu con vô cùng Như Thảo của bác Hoa ơi.
Con đi chơi vui nha, nhớ cầu nguyện cho bố mẹ, cầu nguyện cho em Nguyên gia đình và bạn hữu con nhé, những người thương nhớ con, đến nỗi khóc không thành tiếng vì tiếc thương con.
Bác Như Hoa của bé Như Thảo.


Đến – Đi

Tôi khựng hẳn lại, chững lại, không muốn di chuyển, viết – nói – khóc – cười, dù chung quanh mọi sự dường như bình thường không thay đổi! Đúng thật là trái đất vẫn đang quay, mặt trời vẫn đang mọc hướng đông, lặn ở hướng tây, mùa đang thay đang sang thu.
Bên cửa lá xanh pha màu úa!
tôi tự lay vai tôi:
này này có đến có đi
này này có sinh có diệt
này này có có có mất
Mỗi sự mất mát cho tôi một bài học, bài học khắc vết dọc – vết ngang trong tim tôi.
Khoa học không chứng minh nổi tần số của đau khổ – hình như họ có đo được tần số của hạnh phúc qua nụ cười. Nước mắt của hạnh phúc, nước mắt của đau khổ có cùng một công thức hóa học nên người ta không thể phân tích chăng?
Bao lần trong đời nhìn thấy con người khóc, hình như thấy hoài mỗi ngày, ít ai trầm trồ: “cô ấy – anh ấy khóc!” Họ thích nói về con chó con mèo: “Hình như chúng nó biết khóc, đến con bò cũng biết khóc thì phải, mắt con bò nhìn buồn thiu!” Sự thật của giọt nước mắt không ai đoán được, khi người ta cảm nhận điều gì ấy tuyến nước mắt cương lên và tràn ra khỏi lỗ hở thật nhỏ bên khóe mắt. Người có tuyến nước mắt khỏe, làm việc đều đặn được xem là người có đôi mắt đẹp long lanh như hồ thu (!). Khi tuyến nước mắt bị nghẽn, mắt khô đỏ, toàn khuôn mặt bị lây cái khô khốc ấy mà thành u uẩn, nhìn không tươi nhuận! Thuyền buồm nào bơi lội được trong hố mắt khô! Chẳng câu thơ nào đối nghịch lại hai câu:
mắt em là một dòng sông – thuyền ta bơi lặng trong hồ mắt em (trăng lên – Lưu Trọng Lư)
Mỗi lần ra vườn cắt cành cắt hoa khô, vô tình cắt vào chiếc nụ, tôi hay ta thán một mình: “Á” và vội vàng xin lỗi nụ, tôi đã vô tình không để nụ được sống đời hoa cho biết với “hoa ta”. Mới là nụ, chưa biết cảm giác e ấp nở, chưa thích thú tỏa hương, chưa ngạo nghễ phô sắc, chưa lả lơi đùa nắng cợt gió, tôi xin lỗi nụ là phải! Những điều mất ấy, làm tôi hụt một nhịp thở, chưa đủ để nước mắt tôi ứa ra.
Chiếc nụ tôi vừa bị mất, không tại tôi, tại Thượng Đế – tại số mệnh – tại vô số lý do con người có thể đưa ra, phần vì muốn an ủi, phần vì muốn giải thích một lý do bất ngờ xẩy đến – dưới ánh sáng của mặt trời tất cả mọi sự cố đều phải có một nguyên nhân. Tôi lắng nghe tất cả mọi nguyên nhân từ trăm ngàn vạn phía, từ khoa học đến phản khoa học, từ lạc quan đến bi quan, từ chấp nhận được đến không chấp nhận được, gom hết lại tôi chấp nhận được một sự thật hiển nhiên là MẤT . Giải thích thế nào thì giải thích, tôi bị mất – gia đình tôi bị mất – xã hội bị mất – hành tinh bị mất, mất một sinh mạng, mất một người thân.
Mỗi ngày, bao nhiêu người bị mất, bao nhiêu gia đình bị mất, hành tinh xoay chuyển – mất mát! không còn! chấm hết!
Tôi nhìn lá thấy lá uốn éo đau, nhìn hoa thấy hoa tàn tạ đau, lẩy trái trĩu cành cũng thấy đau, cái đau của cắt đứt chia lìa.
Ai kể lể đâu đó về nỗi đau, chỉ là một kiểu viết, một kiểu cảm nhận, khi kể ra được có nghĩa là vết thưong đã được chăm sóc đã khép miệng, máu đã cầm không còn chảy, các sợi gân cảm giác đã thôi thổn thức truyền tín hiệu lên não. Mấy tuần nay tôi vẫn bình an, như không có gì xảy ra, vẫn bình an khi nhìn mặt trời mọc hướng tây lặn hướng đông, hai hướng lẫn lộn vì tôi bình an mà không biết bên nào phải bên nào trái.
Tôi đi làm, gặp bạn bè, gặp những người bệnh nhân dễ thương của tôi, nghe hỏi: “Cô khỏe không?” tôi nhoẻn cười như thường lệ: “dạ khỏe!” và luôn nói thêm: “ngày hôm nay đẹp qúa, lá xanh, nắng vàng, ấm áp!”. Nếu ai có mắt nhìn xuyên thấu thịt da, sẽ thấy toàn thân tôi chi chít nỗi niềm khó tả, nó chỉ lờ lờ một màu xám đen đậm nhạt.
Hôm nay thứ sáu 31 tháng 8 – ngày lễ tang cho bác của tôi – hôm 13 tháng 8, ông ngã trong nhà dưỡng lão – hai con số thay đổi vị trí – Ngày 13 tháng 8 ngày lễ tang của Maria Crystal – 20 tuổi – ngày 31 tháng 8 ngày lễ tang của Guise 85 tuổi. Tôi như người ngủ trong lúc thức – và thức trong giấc ngủ. Chồng tôi biết điều gì đó trong tôi đau đớn lắm, nên anh chỉ biết quàng vai kéo tôi gục vào bờ ngực. Bạn làm chung biết tôi tan nát kiểu gì đó, nên cũng hay choàng ôm vai tôi từ phía sau lưng.
Tôi hứa với riêng tôi, như mọi lần, mỗi khi gặp bất trắc trong đời sống, tôi sẽ đối mặt với nó, tôi sẽ chạm đôi tay của tôi vào nó, tôi không buồn hỏi tại sao, tôi bắt tôi làm điều gì đó có thể làm ngay trước mắt. Tôi rất nghiêm khắc với trái tim mè nheo của mình, tôi cấm nó yêu quá – nhớ quá – thương quá! cái tuổi thương vay khóc mướn đã qua, bây giờ là tuổi chấp nhận, không suy diễn không thắc mắc, chỉ nhận thật điều đang đã sẽ xảy ra thế thôi.
Đến và Đi – ai muốn đi thì đi đi, tôi đã đến còn đang tồn tại, nhìn bóng lưng của những người đã bỏ đi, có người tôi hét lên gào lên: “Sao bỏ con mà đi Mẹ ơi!” – có người tôi không hét không gào được, chỉ lặng lẽ chùi nước mắt vào gối quần thủ thỉ “Con mang Bố về cùng Mẹ!” khi ngồi bó gối rửa từng lóng xương ngày bốc mộ từ trại cải tạo. Bao người tôi khóc thương khóc nhớ, hai ông bà cụ hiền lành đã ban cho tôi một người chồng tốt, một người bạn đời quí giá. Bóng lưng các bác, các bậc trưởng thượng trong gia đình tôi khóc thương khóc nhớ! Có cái bóng của con bé Crystal là tôi không hét không khóc, chỉ ngẩn ngơ bảo cháu:
- Đi đi, đi bình an nhé con, bên kia cuộc đời này, bác mong có cỏ hoa đan lối, có thật nhiều hoa cúc trắng vàng trên nền cỏ xanh mơn mởn, có chập chùng những áng mây mang hình quả tim màu đỏ, con quay vòng múa hát những bài hát yêu thương không vướng vấp, hai tà áo xoắn xuýt gót chân, nụ cười xinh của con không bao giờ khép!
Viết được thế này, hẳn trái tim mè nheo của tôi có thể hài lòng một chút, để có thể đập hẳn hoi cho giờ phút sắp đến trong buổi lễ hôm nay – cầu cho linh hồn Giuse 1927-2012 mà không buồn bã lắm khi nhớ đến Maria 1991 – 2012. Chấm hết.


Tại Sao

Tôi không biết phải trả lời tại sao, cho câu hỏi “tại sao” tôi hay được hỏi lúc này, qua email, qua những tin nhắn riêng tư, và ngay cả khi gặp mặt các thành viên trong gia đình – các bạn hữu, thân hay không thân, ai cũng có câu hỏi “tại sao” để hỏi.
“Tại sao cháu mất!” tôi ghi dấu chấm than, không là dấu chấm hỏi, vì chính tôi cũng tự hỏi mình “Tại sao con mất, con ơi!”
Đã là 40 ngày qua, cơn chấn động dường như lắng xuống, nó có lắng thật sự không tôi cũng không biết nốt, chỉ biết riêng phần tôi dù không đau đớn, dù đã chấp nhận nhưng tôi vẫn nhớ và khóc, khóc một cách nấc nghẹn, không chỉ là nước mắt tràn ra. Tôi biết tôi đã cố gắng ghìm giữ nén, để sống như không có gì xẩy ra, nhưng nó đã xẩy ra cơ mà!
Không ai thắc mắc khi một người ra đi sau cơn bệnh trầm kha, sau các ca phẫu thuật. Người ta có thể cảm thấy hạnh phúc khi nghe tin một người lớn tuổi được ra đi, khỏi phải sống một cách cô đơn buồn chán trong viện dưỡng lão với đủ mọi loại tật bệnh lặt vặt. Nhưng sự ra đi bất ngờ của một thiếu nữ hai mươi tuổi hoàn toàn khác hẳn. Tai nạn gì bệnh tật gì tại sao – tại sao và tại sao?
Năm hai mươi tuổi tôi cũng đã khổ lắm, khổ đến độ tim đau muốn vỡ khi toàn bộ tiền bạc trong nhà phải đem đi vứt bỏ, nhìn người ta cắt góc nó vứt vào bao rác, đưa lại cho mình 200 đồng, có hình ông hcm, lúc ấy vẫn gọi là tiền “cụ” .
Toàn gia đình tôi, không còn bố mẹ, có thêm cô ruột của tôi, người phải trở lại cuộc sống đời thường, không còn được sống trong dòng tu như trước nữa. Tôi ngơ ngác xoay trở, học cách sống mới trong hoàn cảnh ngặt nghèo – cô của tôi còn ngơ ngẩn hoang mang hơn, cô đốt hết tất cả mọi quyển nhật ký của Bố tôi viết trước năm 1945 ngày còn thanh niên ở miền Bắc. Sau khi đất nước phân đôi bởi vĩ tuyến 17, di cư vào Nam ông mang những quyển nhật ký ấy theo viết tiếp.
Tôi là con gái lớn của Bố, tôi mê đọc sách, tôi thích viết giống Bố, tôi viết tràn lan nhưng không viết nhật ký. Tôi tự hỏi: “Không biết Bố có hay, con đã đọc hết các điều bố viết trong nhật ký không?” Tôi say mê đi theo Bố tôi trên con đường gập ghềnh di tản từ miền quê Nghĩa Ải – Hà Đông yên ấm lên Hà Nội, phải sống một cách “chui nhủi” để không bị bắt vì tội danh con “địa chủ” – tôi đọc giai đoạn ông không có tiền để đóng học phí, phải học qua cửa sổ, sau đó cha hiệu trưởng biết được, nhận ông vào trường, những điều tôi đọc từ Bố tôi nhiều vô kể, ông viết rất chi tiết, ngay cả quyển gia phả ông lập từ ông Cố ông Sơ, cô của tôi đốt hết vì sợ bị xét nhà, bị bắt, dù họ đã bắt Bố tôi đi mất rồi.
Mấy chục năm qua, tôi chỉ nhớ đôi điều chính yếu Bố tôi đã viết – từ mối tình đầu không trọn vì bà nội tôi ngăn cấm, đến lần Mẹ tôi giận ông khi ông đi nhẩy đầm bị quân cảnh giữ qua đêm, tội đi sau giờ giới nghiêm, để mẹ một mình ở nhà trong khu trại dành riêng cho sĩ quan huấn luyện quân sự, trung tâm nhập ngũ số 3 Hóc Môn – Gia Định . Ông còn giữ cả tờ thư ông viết xin lỗi mẹ tôi trong đêm đó nữa.
Lần Bố viết cho Mẹ tôi sau khi Mẹ tôi bị tai nạn xe mất đi vào năm 39 tuổi, Bố tôi trách Mẹ tôi đã không để ông lo hậu sự cho mẹ lần cuối, mà trả lại số tiền nhiều hơn tiền ông tổ chức đám ma cho mẹ một chút, bằng tờ vé số Mẹ tôi mua trước khi bị tai nạn, Bố Mẹ tôi đều ít khi nào mua vé số, chẳng biết vì lý do gì Mẹ tôi lại mua vé số ngày ấy.
Niềm tin vào Thiên Chúa, Mẹ Hằng Cứu Giúp cho tôi chút sức mạnh, nguồn sức mạnh tôi có lớn nhất lúc ấy là ngày tôi gặp lại Bố của tôi, tôi phải sống, tôi phải gìn giữ gia đình của tôi thế nào để khi Bố trở về còn nguyên vẹn như thế. Tôi có dại dột làm những điều sai vì đang tuổi mới lớn ngông nghênh, tin mình có thể hô phong hoán vũ, lấp biển vá trời, cùng lúc phải chống chọi với nhiều điều phi lý từ người lớn áp đặt, bắt tôi phải làm. Có lúc tôi muốn chết cho sướng thân!
Ngẫm nghĩ thế, tôi liên tưởng đến cháu của tôi, không biết cháu có điều gì đau đớn khổ sở để muốn chết giống tôi ngày xưa hay không ?
Tuổi trẻ sống trên quê hương của người ta, tiếng ngoại quốc giỏi hơn tiếng mẹ đẻ, nói chuyện với các cháu, từ ông bà đến cha mẹ, đôi lúc phải hỏi lại để hiểu chính xác các cháu muốn nói gì! có thể thế hệ thứ hai thứ ba sẽ không còn bị vấn nạn này, nhưng với thế hệ đầu tiên đây là nỗi khổ tâm không cách gì diễn tả ra hết.
Người Ấn – người Phi họ học vỡ lòng bằng tiếng Anh tiếng Mỹ – người Mễ không cần biết tiếng Anh nhiều, họ thoải mái dùng tiếng Mễ nói với nhau, mọi dịch vụ chung quanh đều có thêm ngôn ngữ của họ. Tiếng Việt bây giờ tại những nơi cộng đồng Việt Nam cư ngụ cũng bắt đầu được dùng để giúp người chưa thông thạo tiếng bản xứ. Thế hệ của tôi, còn có thể học cách nói năng cho đúng giọng, nhưng viết ra được ý tưởng của mình còn rất khó, chẳng có bao người – cho dù bằng cấp thật nhiều, sao cũng phải nhờ các cháu sửa lỗi chính tả, sửa lỗi văn phạm. Nói chuyện với con với cháu, cả hai đôi lúc nhìn nhau phì cười hay nhìn nhau cau mày khó chịu – chẳng thế nào hiểu hết ý nhau, ngoài những chuyện thường ngày chào sáng, chào trưa, chào tối, khỏe không? ăn ngon không, ngủ ngon không? Cho đến ngày các con trưởng thành, lập gia đình, may mắn có con dâu con rể nói cùng ngôn ngữ – gặp con dâu con rể không nói tiếng Việt với mình, đuợc xem như “kém may mắn”.
Bác cháu tôi cũng thế! Nói chuyện pha đủ thứ tiếng, cháu cũng học Việt Ngữ dạy Việt Ngữ, nhưng chắc chắn một điều, biết tiếng Việt cho có cho vui, cốt lõi hiểu biết thâm trầm phải là ngôn ngữ cháu nghe từ lúc chào đời, từ khi nằm nôi cho dù chỉ vài ngày trong bệnh viện.
Người ta hay nói, khi mình gặp điều gì bất như ý, khi ấy mới nhận ra rằng thế giới chung quanh có xảy ra những trường hợp y như thế. Trong gia đình có con cháu chết trẻ mới hay bạn bè, những người quen thuộc chung quanh cũng đã từng vượt qua nỗi đau khổ ấy.
Tôi phải trả lời thế nào cho câu hỏi “Tại sao?” này, đã hơn một tháng rồi, tôi vẫn không có câu trả lời. Chết là ngưng thở, tim không đập nữa! Nguyên nhân thì vô cùng vô tận, bệnh – tim yếu – ngạt hơi – căng thẳng quá – đau khổ quá – ấm ức quá. Phim truyện tận dụng tất cả mọi nguyên nhân từ y học phổ thông – họ khéo léo giàn dựng thêm các chi tiết giả tưởng, cộng với vài điều chưa giải thích được về cõi vô hình để câu chuyện thêm hấp dẫn, cháu tôi chết cũng là tim ngưng đập, không thở nữa. Tờ giấy của cảnh sát viết gì không biết, giấy từ sở y tế công cộng cho phép được chôn thiêu tôi cũng không được đọc. Những thủ tục cần thiết sau khi gia đình có người mất đi tại nhà, nếu là già yếu thì có bác sĩ đến tận nhà chứng nhận qua chương trình hospice. Cháu tôi còn trẻ gọi cấp cứu, cảnh sát đến lập biên bản xong mang đi khám nghiệm, tìm tòi khắp phòng xem có điều gì lạ, có bị... gì không? Ra khỏi nhà rồi là hết – là xong không còn ai thấy nữa hết, ngoài hình ảnh ngoài nhớ thương đau đớn còn lại trong lòng người thân của cháu.
Chỉ được nhìn mặt lần cuối khi đã thu xếp xong chương trình hậu sự, mướn được nhà quàn, ngày giờ cha có thể làm lễ – ngày giờ thiêu hay an táng – gởi cáo phó – in chương trình buổi lễ nhà thờ. Hình thức tang lễ khác hẳn tại Việt Nam, mất rồi chết rồi vẫn còn xác trong nhà ít nhất 3 ngày trước khi đưa chôn hay thiêu.
Tôi nghe hơn ba lần câu hỏi: “Bây giờ xác cháu đang ở đâu!” tôi không nhớ tôi có trả lời gì không nữa, còn câu hỏi “Tại sao?” nếu dùng ngoa ngữ có thể lên đến ngàn lần. Gia đình tôi có đạo, nên sau khi cháu mất, hội đoàn, bạn bè thương yêu tự lập thành nhóm đến nhà đọc kinh cho cháu, đây là niềm an ủi vô tận cho gia đình gặp cơn khốn khó. Phải đối diện với sự mất mát, tinh thần và niềm tin giúp người ở lại mạnh mẽ hơn. Cũng là cách nhắc nhở, có bàn tay vô hình nào đó xắp xếp mọi việc, từ khởi đầu đến khi kết thúc một đời người.
- Tại sao cháu không đau không bệnh, chết! Có thể nào cháu dại dột uống thuốc hay làm gì đó...
- Tại sao...
- Tại sao...
Có nhiều sự thật người ta nói ra, người nghe không chịu tin vì muốn nghe câu trả lời theo ý mình đóan. Cũng có nhiều sự thật người ta không muốn nói ra, hoặc giả nói ra cũng chẳng níu kéo lại được gì.
Và muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi “Tại sao?” sau khi cháu Crystal ra đi cũng trong trường hợp này!
Tôi thật sự không biết tại sao cháu chết trẻ quá như thế, cháu có thật sự muốn chết trẻ như thế không? Tôi gào khóc hỏi cháu khi đưa cháu đi, tôi thì thầm hỏi cháu khi ngồi trong phòng cháu đã sống bao năm, chỉ có cháu trả lời được, mà cháu đã đi mất rồi.
Thôi thì tôi đành im lặng khi nghe hỏi: “Tại sao?”
Nhớ HN cô em gái thứ hai hóm hỉnh của tôi nói trong nghẹn ngào:
- Chị quên ghi câu “Xin miễn hỏi tại sao.” sau câu Xin Miễn Phúng Điếu và Vòng Hoa trong thiệp cáo phó.
Như Thảo của bác đang cười trêu bác phải không? Nếu là con, con sẽ trả lời thế nào? Bác biết rồi, con cúi mặt, mắt nhìn xuống ngón chân và mỉm cười: “Bác Hoa ơi, con không biết mà!”
Bác nhớ con lắm, con biết không Thảo ơi!


Image


11005



Image

..t r ă n g. s á n g
V Ư Ờ N .Q U Ỳ N H
____________________________________________________________________________
q u ỳ n h h ư ơ n g



Ơ kìa anh... là trăng của ta đó
Bóng lung linh mỉm cười với sao đêm
Trăng đêm nay, có phải trăng ngày nọ?
Khi anh đến gõ cửa trái tim em

Trăng ngày ấy... hoa tình yêu chớm nở
Đóa quỳnh hương mơn man ngọn gió đùa
Lá thì thầm gọi trái tim mở ngõ
Có chút gì khuấy động... sóng tình đưa

Trăng ngày xưa, chứng nhân của tình yêu
Từng đêm về ru say giấc mỹ miều
Trăng ngày nay chỉ là trăng kỷ niệm
Về chốn cũ, mong tìm lại cánh diều

Trăng ngày mai, về nơi đâu trăng hỡi?
Bỏ lại đây, ray rứt mối tình đầu
Anh ra đi... vẫy tay chào quá khứ
Em ở lại... vương vấn một nỗi sầu

Trăng hôm nay, trăng bình yên lắng đọng
Nghe đâu đây tiếng gió ru thầm thì
Dòng dư cảm lênh đênh trong giấc mộng
Kỷ niệm xưa... ẩn hiện... đến rồi đi...


Image


11006



Image
t ự
K H Ú C
____________________________________________________________________________
*g i ọ t s u o n g t i m



Đã tự mật khải cho riêng mình cho thân quen, những tâmtưkhúc ướt mềm sương tím
Yêu thương mãi đọng trên dòng hư từ,
mà hư từ là những mạch thở lặng trầm cứ thế mà chữ mà lời...

Note thơ cuối,
ngủ hiền trong tim mình tim người như nụ hồng tím tâm can
Note trầm của chuỗi tâm tư sến sáo cuối cùng đã khép lại
Khép lại.
Nhưng tâm linh đâu thể vô duyên vô cớ cứ thế mà biệt mà lìa,
nên khuất danh chưa hẳn đã thật vẫy chào

Tim thì vẫn thế, rấtnồng. Lòng thì vẫn cứ, rấtrộng. Ý thì vẫn mãi, rấtlồng
nên hồn bữa nay rơi giữa miền khuất mớ,
ới thơm một khúc mật khải tình dài lâu tặng etetet- trên thảm hoa của hơn một ngàn ngày...


Image


11019 top -
e t e t e t, 3 n ă m n h ì n l ạ i...
1, 2, 3, 4, 5, 6 ... 9
_______________________________________________
Tim Nở Hồng Hoa - thơ - Hoàng Vũ Luân _______________________________________________

Image

tơ hồng vẫn thế, càng tránh càng vương
kết sợi vô thường hoa đăng tận nguyệt
từ trong hoa tuyết - tim nở hồng hoa
từ trong mặn mà - tình ru miên viễn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Phù Phiếm - văn - Trần Bảo Toàn _______________________________________________

Image

Một người sống phù phiếm chỉ có thể là ánh nến leo lét giữa cơn gió lạnh, không thể là ánh mặt trời ấm áp để sưởi ấm cho nhân gian. Khi có người cha phù phiếm, con cái sẽ tang thương, có người mẹ phù phiếm, con cái sẽ kém hèn. Có cả cha cả mẹ phù phiếm, con cái một thành thánh nhân, hai thành ăn cướp, ba sẽ đứng đường.

xem tiếp...

_______________________________________________
Khiêm Cung - nhạc - Hoàng Thy Mai Thảo & Ngọc Thể _______________________________________________

Image

xin là sao lấp lánh
xin là đời thuỷ chung
như Vì Sao thiên cảnh
như Cuộc Đời khiêm cung.

xem tiếp...

_______________________________________________
Hoa Đào - ảnh - violetdehue _______________________________________________

Image

Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Ðào hoa y cựu tiếu đông phong
Thôi Hộ

xem tiếp...