THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP






Image

____________________________________________________________________________
l o n g t u y ề n . n g u y ễ n p h ư ớ c t r a n g


12460






kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma
Đặng Dung


Vài mảnh vụn tâm tư
của một người lính già thua trận
đang còn đếm bước lưu vong.
____________________________________________________________________________
l o n g t u y ề n


12461



Image


G Ặ P .n h a u
thân gởi anh Hoàng Phong Linh
____________________________________________________________________________



Khi ở quê hương chúng mình xa lạ
Gặp bên đường chưa chắc đã chào nhau
Trên đất khách tay nắm tay vồn vã
Vì chung lòng san sẽ một niềm đau.

Cùng cảm thông sầu tàn binh thất trận
Để quê hương chịu ách nạn hung tàn
Giờ xiêu dạt xứ người cùng lận đận
Cùng mang hận cừu nung nấu tâm can.

Thương quê mẹ đang chìm trong luyện ngục
Thương thân bằng chiến hữu chịu lao tù
Vạn cảnh lầm than, triệu người cơ cực
Thương hận trùng trùng oằn oại tâm tư.

Được gặp nhau trên bước đường lưu vong
Cười chào nhau trong ánh mắt cảm thông
Đường phục quốc mênh mông qua sa mạc
Thêm bạn đồng hành, vợi bớt cô đơn.

Vì lửa thiêng trong vạn tim ấp ủ
Được khơi lên cùng hướng vọng quê nhà
Cùng tâm nguyện dẹp tan loài giặc đỏ
Đang phá điêu tàn sự nghiệp ông cha

Bằng máu xương bốn ngàn năm xây dựng
Càng khuynh nguy chí bất khuất càng cao!
Đến chúng ta mang nhục vì thua trận
Phải vùng lên chuộc tội với mai sau!

Thương nhớ ngập hồn, buốt tim uất hận
Sống xứ người không chịu mất quê hương
Quyết nương lửa thiêng mong về kịp hạn
Cho xương tàn khỏi vùi lạnh tha phương.

Và mong thế hệ sau sôi ý chí
Nhen lửa thiêng thành rực rỡ phi thường
Xua hết lũ hung tàn, rồi dựng lại
Nước Việt-Nam từ căn bản yêu thương.

Anh với tôi
Cách nhau nửa vời đại dương
Chung mối ưu tư ngàn lời khôn dứt
Dù mới quen nhưng cùng chọn một đường
Kết nghĩa đồng hành giữa hai đại lục
Lòng thấy ấm dọc mênh mông sa mạc
Vì cùng chung một niềm nhớ quê hương.

Gặp nhau hai lần rồi chia tay
Đứng thẳng chào nhau hẹn một ngày:
Chắc chắn lại gặp nhau nơi nào đó
Tại Việt-Nam mình cách biệt lâu nay.



L o n g T u y ề n
Houston, mùa hè xa xứ thứ tư
tháng 6, 1979



12462



Image


n g u y ệ n .C Ầ U
____________________________________________________________________________



Xin được gặp
trên bước đường vong quốc
thật nhiều đồng hương,
dù lạ hay quen.
Được chào nhau qua nụ cười ánh mắt
và được cùng nhau nói tiếng Việt-Nam.

Xin được nghe
nhiều câu chuyện ngọt ngào
qua sáu cung bằng trắc rất thanh tao
không, sắc, hỏi, huyền, ngã, nặng.
Tiếng đơn âm mà phong phú biết bao!

Xin được nghe
lời bập bẹ trẻ thơ
bằng tiếng Việt-Nam, đến tận bao giờ
tôi nằm xuống, dù được về Đất Mẹ
hay chết xứ người, cũng bớt bơ vơ.

Xin được nghe
lời trẻ Việt thường ngày
vừa ngọt ngào, vừa êm dịu bên tai.

Trong hành trang của tuổi thơ mất nước
còn mang được tiếng Việt theo đây
cố nuôi dưỡng ngôn ngữ mình, tồn tại
với người Việt-Nam, trên bước lạc loài!

Xin được nghe
những bài hát Việt
ngợi ca truyền thống quật cường
của tiền nhân suốt bốn ngàn thu cũ
xây Việt-Nam bằng trải máu phơi xương.

Xin được nghe
trẻ thơ đọc dùm sách Việt
mang từ Việt-Nam, thoát lửa hung tàn.
Tưởng công ông cha viết nhiều trang bất khuất,
lịch sử uy hùng của dân tộc Việt-Nam.

Xin phấn khởi:
Vì được nghe tiếng Việt
và được đáp lời bằng tiếng Việt yêu thương.
Đừng sợ cháu con không thông ngoại ngữ,
chỉ e mình quên tiếng Việt dọc đường.

Xin cầu nguyện:
Thiêng Liêng ban ân sủng
cho đồng bào tản lạc khắp phương trời
nuôi dưỡng tiếng Việt-Nam như mạch sống
đã lưu truyền cho dân Việt tự muôn đời.



L o n g T u y ề n
Houston, 10 tháng 10, 1980



12465



Image


t h e o .b ư ớ c .S U Y .T Ư .
____________________________________________________________________________



Thoáng chốc đã sáu năm mất nước, sáu năm cách biệt quê hương, sáu năm cam chịu kiếp lưu đày biệt xứ! Sáu năm oằn oại tâm tư mà thời gian không làm nguôi được lửa nấu nung, và mỗi năm, vào những ngày tháng này, bao nhiêu kỷ niệm lại dồn về.

Làm sao quên được: khi quay lại nhìn bờ đất thân yêu giăng dài Nam Bắc mà không biết bao giờ trở lại; lúc phải bỏ mũ sắt, cởi áo giáp, nhất là khi phải rời khẩu vũ khí bất ly thân để được lên tàu! Ai đã sống suốt kiếp quân nhân mà khỏi ngậm ngùi vào phút giây chua xót đó. Rồi càng đau xót hơn khi đứng nhìn lá cờ nền vàng ba nét đỏ của quốc-gia Việt-Nam từ chót cột cờ một giang đỉnh đang bập bềnh trên sóng phải từ từ hạ xuống, rồi viên thủy thủ không hề quen biết kia chậm rãi xếp lại kỷ càng và nâng niu như bảo vật: lá cờ không được quân dân miền Nam bảo vệ đúng mức đành chịu lưu vong theo những người vừa thua trận.

Phải, ngày 30 tháng 04 năm 1975, chúng ta đã thua một trận lớn. Và bao nhiêu trách nhiệm được đổ hết vào đầu “bọn quân nhân” chúng ta. Ôi! mất nước là nhục lớn, và là trách nhiệm chung của mọi người, của mỗi công dân Việt-Nam — kể cả lũ thất phu cũng có trách nhiệm! Xin đừng ai trút riêng gánh nặng này trọn vẹn cho quân nhân, vì tự mỗi quân nhân đã có một gánh nặng trách nhiệm của riêng mình! Ai đã đem trọn thời niên thiếu để phục vụ dưới quân kỳ nền vàng ba nét đỏ chắc đã xót xa khi phải thay bộ quân phục, muộn nhứt là vào lúc đến trạm tạm cư Orote Point (Guam), sớm hơn là lúc rời thuyền hay xà lan nhỏ để lên tàu của Đệ Thất Hạm Đội đang nán đợi ngoài khơi. Làm sao khỏi luyến lưu bộ quần áo mầu binh chủng mà mình đã mang từ bao nhiêu năm! Nhưng thực tế bộ quân phục đó đã rời thân thể từ sáu năm dài, sao tâm tư mình chưa chịu chấp nhận hiện trạng rằng mình đã phải “giã từ vũ khí”?

Vì đã sống một kiếp lính hiên ngang, nên rất khổ đau khi phải tự nhận tiếng “hèn”. Thua trận đến mất nước rồi bỏ chạy là hèn. Mỗi quân nhân chúng ta đều gánh chung tĩnh từ chua xót này. Thua trận là hèn sao? Vì trước chúng ta, bao nhiêu người đã thua trận; và rồi sau chúng ta, còn bao nhiêu người sẽ thua trận, trong lịch sử Việt-Nam, trong lịch sử nhân loại? Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng: Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn. Nhờ có sự dũng cảm của quý vị để giữ tròn tiết tháo mà chúng tôi được quyền nghĩ rằng truyền thống bất khuất của Quân Đội quốc-gia vẫn còn. Xin khâm phục các chiến hữu quốc-gia còn bị lưu đày trong các đáy ngục cộng-sản: vì quý vị đã xả thân gánh chịu thay cho những kẻ đào thoát như tôi.

Thua chạy là “hèn” sao? Vì trước chúng ta, đã có một người chạy thật nhanh, nhưng hẹn ngày trở lại và đã trở lại: để bắt Thiên hoàng nước thua trận phải chấp nhận đầu hàng. Và theo gương lịch sử Việt-Nam cũng có nhiều người đã chịu thất bại nhiều lần, trước khi xua được giặc Nguyên ra bờ cõi, trước khi thắng quân Minh để dựng nên đại nghiệp. Và ở Tây Âu, lại có một người, ngay đêm mất nước, đã lên đài phát thanh Luân Đôn, kêu gọi: “Chúng ta đã thua một trận, nhưng chúng ta tiếp tục cuộc chiến” để rồi bốn năm sau đó, đưa quân về đuổi xâm lăng quốc xã Đức, giải phóng quê hương và thu hồi độc lập cho xứ sở.

Cựu quân nhân Việt-Nam sẽ mang chịu tiếng “hèn” vĩnh viễn, nếu chúng ta chấp nhận kiếp sống lưu vong này, nếu chúng ta cho rằng cuộc sống đầy đủ vật chất này là thiên đường, nếu chúng ta cho rằng vị trí trong xã hội hiện nay, mà chúng ta tạo được sau sáu năm ở xứ người là vinh hiển, nếu chúng ta đành thờ ơ với những tiếng kêu đau thương từ đáy vực, của anh em đồng đội còn đang oằn oại thay thế chúng ta trong các trại tập trung, nếu chúng ta cam tâm làm ngơ với nỗi cơ cực của đồng bào đang gánh chịu ở quê hương, thì chúng ta hèn thật.

Nhưng chúng ta không thể chấp nhận như vậy, vì chúng ta là người còn có lương tri, nhờ gia đình nuôi dưỡng trong yêu thương, nhờ học đường tạo dựng trong khuôn phép lễ nghĩa, nên chúng ta biết thương yêu ông bà cha mẹ, biết sùng kính Phật Trời, và tôn thờ Tổ Quốc. Hơn nữa, mỗi chúng ta, khi vào quân ngũ, đến khi mãn khóa, dù ai còn nhớ, dù ai đã quên, chúng ta đều có một lời thề dưới lá quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ.

Vì lời thề thiêng liêng đó, mà sáu năm nay, tâm tư chúng ta còn oằn oại, vì lời thề đó mà đôi khi chúng ta phải xót xa cúi mặt, nhưng chúng ta không thể quên. Vì lời thề đó mà chúng ta không có quyền thờ ơ với hiện tình đất nước, với cuộc sống cơ cực của đồng bào ở quê nhà; vì lời thề đó mà chúng ta phấn khởi khi được tin những bạn đồng đội cũ đang kiên tâm tìm một hướng đi có ý nghĩa; vì lời thề đó mà chúng ta có bổn phận — trong cố gắng, trong khả năng — phải làm những điều hữu ích thật nhỏ ở đây. Và cũng vì lời thề đó mà chúng ta luôn luôn còn thật nhiều ưu tư hướng về đất tổ quê cha.

Nếu chúng ta muối mặt quên lời thề đó, nếu chúng ta quên xứ sở, nếu chúng ta chọn nơi này làm quê hương thứ hai cho khoảng đời còn lại thì chúng ta phủ nhận tất cả công lao do tổ tiên gầy dựng suốt 4,000 năm; chúng ta quên truyền thống bất khuất của ông cha trao truyền lại từ bao thế hệ; chúng ta phụ rẫy tất cả sự hi-sinh của anh em đồng đội đã nằm xuống để bảo vệ tự do, chánh nghĩa mà chính chúng ta đã cùng đi với họ suốt đoạn đường dài dưới lá quốc kỳ nền vàng ba nét đỏ.

Nếu chúng ta quên lời thề đó — lời thề của cựu quân nhân Việt-Nam quốc-gia — thì anh linh liệt sĩ sẽ trách móc chúng ta, hương hồn tiên tổ chúng ta sẽ tủi hận, xương cốt của anh em chúng ta trong các nghĩa trang hay trong những nấm mộ vô danh trên khắp chiến trường phải lăn trở, hay phải còn chịu đòn thù đào xới của cộng-sản vô thần; đồng bào ruột thịt của chúng ta đành phải chịu đọa đày vĩnh viễn trong tuyệt vọng. Hơn thế nữa, mai sau này, một ngày nào đó, con cháu chúng ta sẽ ý thức được sự quan hệ của nguồn gốc để tìm về; chúng sẽ biết nghĩ suy — dù chúng không còn nói thông thạo tiếng Việt-Nam — chúng sẽ nguyền rủa chúng ta, hay ít nhứt chúng cũng thầm cho rằng chúng ta chỉ là một phường phụ huynh bất xứng.

Cựu quân nhân Việt-Nam quốc-gia đã ngang nhiên đối đầu với cộng sản Hà-Nội suốt cuộc chiến dài, dù đã bị thua một trận lớn, nhưng vẫn phải giữ tinh thần, chuẩn bị và kiên trì chờ đợi. Một ngày nào đó, khi may mắn gặp được thành phần lãnh đạo xứng đáng, chúng ta lại tiếp tục phục vụ quê hương dưới những hình thức khác, bằng nhiều phương tiện khác.

Gương sáng tổ tiên còn đó, là con cháu, chúng ta có bổn phận phải noi theo. Nhục mất nước còn đó, chúng ta phải tích cực tiếp tay vào mới mong rửa được. Tiếng hèn còn đó, chúng ta còn phải hao tổn rất nhiều tâm cơ hay xương máu mới mong có ngày được ngẩng mặt mà không hổ thẹn với đồng bào, với bạn bè còn trong nước đang chịu cơ cực hay tù đày. Ví dù chúng ta lại phải nhận là kém cõi rồi lại thất bại, thì cũng xin được làm Người — làm một cựu quân nhân quốc-gia Việt-Nam — trọn vẹn với nghĩa của danh từ.

Ngày 30 tháng Tư trở lại, nhắc nhở chúng ta rất nhiều: lời thề phụng sự Tổ Quốc, bổn phận công dân khi quốc biến, niềm nhớ nhung đất tổ quê cha với ngổn ngang đau thương và căm hận. Bao nhiêu nỗi niềm chua xót đó nấu nung tâm tư mỗi cựu quân nhân Việt-Nam quốc-gia. Tâm nguyện của mỗi chiến binh quốc-gia là tiếp tục phục vụ đất nước, dù đã thua một trận, nhưng không chịu bỏ cuộc, không chịu đầu hàng.

Theo bước suy tư, chúng ta có quyền dệt những giấc mơ thật đẹp và có quyền hy-vọng sẽ có cơ hội được dự vào việc dựng ước mong thành sự thật: như được thấy đoàn thần mã Thất Sơn ruổi vó về thăm làng Phù Đổng, như được thấy các thiên thần mũ đỏ hiên ngang trú đóng gần cửa Nam Quan, như được nghe tiếng hô “Sát” uy hùng của anh em mũ nâu ở Chi Lăng, như được thấy đàn em của Phạm Phú Quốc tươi cười ở phi trường Gia Lâm, như được nghe máy giang đỉnh Hải Quân Việt-Nam từ Sài-Gòn ra đậu bến Chương Dương, Hàm Tử, như được thấy các anh em Thủy Quân Lục Chiến, các Sư Đoàn, các Binh Chủng diễn binh trong Hà-Nội... và nhiều nữa.

Còn bao lâu và còn phải tốn bao nhiêu tâm cơ và xương máu để ước mơ huy hoàng nêu trên được thành sự thật!? Cho Việt-Nam được thấy lại lá cờ vàng ba nét đỏ tung bay theo gió: vâng, lá cờ thân yêu đó, mà mỗi chúng ta hằng mong ước được phủ kín hình hài, khi mai hậu — lúc chúng ta nằm xuống.



L o n g T u y ề n
Houston, ngày 24 tháng 04 năm 1981

Image


12490



Image


T Ì N H .T H Ư .c ủ a .L í n h .
____________________________________________________________________________



Trong một hố cá nhân, vùng chiến trường khu Nam vĩ tuyến 38 nước Nam Hàn, một quân nhân đã xé một tờ giấy cất trong mũ sắt, viết lá thư gởi về hai cô con gái nhỏ đang ở quê nhà tại Collingdale, Pennsylvania Hoa-Kỳ.

Lá thư này đã đến nơi và được cho hai cô Rose Marie (6 tuổi) và Joan (3 tuổi) vào ngày thứ năm 15 tháng 09 năm 1950.

Ba ngày trước đó, ngày 12 tháng 09 năm 1950, hạ sĩ nhứt John McCormick, 28 tuổi, cựu chiến binh Nhảy Dù thời Đệ Nhị Thế Chiến, trở thành khinh binh trên chiến trường Triều Tiên, đã hi-sinh trong khi thi hành nhiệm vụ.

Qua lá thư gởi cho hai con, một chiến sĩ ở cấp bực khiêm tốn đã nói lên tinh thần tranh đấu cho chánh nghĩa trong phạm vi và khả năng của mình. Điều này cho thấy rằng “dưới cờ cường tướng, không có nhược binh”. Trong khoảng thời gian bức thơ đến Hoa-Kỳ, nhằm lúc tướng Douglas MacArthur đang chỉ huy đổ bộ lên Inchon để tái thu Nam Hàn, nơi xảy ra cuộc chiến tranh quy ước giữa Quân-lực Liên-hiệp-quốc và khối cộng-sản Quốc-tế gồm Nga-Sô, Trung-Cộng và Bắc Hàn.

Đây là lá thư hay nhứt của lính chiến gởi về nhà mà tôi được đọc. Xin lược dịch từ nhựt báo Houston Chronicle ngày 15 tháng 09 năm 1950, để cống hiến anh em quân nhân Việt-Nam đang lưu lạc ở hải ngoại.

Hai con Joannie và Rose Marie thương yêu,

Cha đang viết cho hai con đây. Và cha mong rằng hai con hãy lắng nghe cùng chú ý khi Mẹ đọc thư này cho hai con. Hãy hình dung và tin tưởng rằng cha đang ở gần, và đang nói chuyện với hai con.

Joannie! Cha không nghĩ rằng con còn nhớ được cha, vì khi cha ra đi con còn nhỏ quá! Nhưng khi còn ở nhà, cha thường giữ con và bồng ẵm con trên tay. Có khi con quấy rầy nhiều quá, cha đã bắt con ngồi yên trên ghế cho đến khi con biết ngoan ngoãn vâng lời. Cha đã thương con thật nhiều và cha đã vô cùng hãnh diện vì con.

Rose Marie! Chắc chắn con còn nhớ cha, vì cha thường dẫn con đi dạo bên ngoài. Cha thường mua bánh kẹo và kem cho con. Cha đã vui sướng khi có người bảo rằng con có đôi mắt giống cha như hệt. Con có còn giữ được con búp bê mà cha đã mua cho con? Mẹ con thường thắt một chiếc nơ mầu hồng — màu tên con — trên cổ con búp bê đó, và con thường bế nó trên tay. Lúc đó, trông con thật vô cùng duyên dáng!

Cha muốn rằng hai con phải hiểu là cha ao ước được ở gần hai con, nếu cha có đủ quyền tự quyết định. Nhưng trên thế giới, còn quá nhiều kẻ ác tâm hung bạo mà nếu ai cũng để yên cho chúng làm những điều chúng muốn, thì những cô gái như hai con sẽ không còn dịp đến dự lễ ở giáo đường ngày Chủ Nhật, cũng không được yên lành cắp sách đến trường như hai con ưa thích.

Do đó, cha có bổn phận phải chiến đấu chống lại họ và ngăn cản họ; không cho họ đến được nơi hai con đang sống bình yên. Việc này có thể đòi hỏi một thời gian khá dài cùng nhiều nguy hiểm. Và cũng có thể cha phải về theo Chúa để phụng sự Ngài trên thiên đàng. Nếu cha có về theo Chúa, cha luôn luôn ước mong rằng hai con lúc nào cũng ngoan ngoãn vâng lời Mẹ, vì Mẹ của hai con là người mẹ tuyệt vời trên toàn thế giới bao la hiện tại.

Mẹ luôn luôn săn sóc hai con chu đáo khi cha đi vắng. Hai con thấy đó! Cha đã vương mắc vào hai thế chiến trong khoảng 10 năm. Lý do khiến cho cha đang ở nơi này hôm nay: vì cha đang tranh đấu cho điều mà cha nghĩ rằng là Lẽ Phải.

Đây là điều mà cha luôn luôn mong ước hai con nhập tâm ghi nhớ. Khi nào lương tâm hai con nhận thấy một điều là đúng; hãy mạnh dạn đứng lên vì việc đúng đó. Hai con có thể bị thế nhân chê cười khi hai con hành động trong lúc ấy. Nhưng về lâu dài sau này, thiên hạ sẽ kính phục hai con, vì hai con đã dám làm như vậy.

Khi hai con khôn lớn, trở thành hai cô gái mỹ miều, hai con đừng quên những gì Mẹ đã lo lắng cho hai con. Có thể Mẹ sẽ không sắm được áo quần theo thời trang cho hai con như những trẻ khác, cha mong hai con hãy nghe lời Mẹ dạy: Hai con hãy đến giáo đường dự lễ ngày Chủ Nhật, nhân tiện hai con cầu nguyện cho cha.

Hai con hãy giữ thơ này cho đến khi khôn lớn, trong trường hợp cha không còn dịp để nói với hai con. Hãy cố gắng nhớ những điều cha viết hôm nay vì đây là những điều cha xây dựng cho hai con. Và cũng vì cha yêu con và Mẹ thật nhiều!

Cha đang ẩn dưới một hố cá nhân ngoài trận tuyến của một nơi được gọi là nước Triều Tiên. Trong những ngày sắp tới, cha sẽ chiến đấu vô cùng gian hiểm. Cha viết thơ cho hai con với tất cả tình yêu của cha trải trên mảnh giấy nhỏ này. Cha vẫn giữ tấm ảnh hai con và Mẹ bên cạnh tim cha. Nếu cha phải về theo Chúa để phụng sự Ngài trên thiên đường, thì hai con hãy biết rằng tư tưởng cuối cùng của cha khi còn ở cõi trần hoàn sẽ dành cho hai con và Mẹ. Kèm theo đây là tất cả tình yêu của cha và những nụ hôn tha thiết.

Hãy ngoan ngoãn và Chúa sẽ phù hộ hai con.

John McCormick



L o n g T u y ề n
(lược dịch 1984-1985)

Image


12492



Image


n h ư .n h ữ n g .H Ạ T .M A I .
____________________________________________________________________________


Hắn là một tên lính thua trận. Hắn cũng như số đông lính thua trận khác — không dự được một trận cho ra hồn, mà đã chạy — chạy muộn một chút, sau khi sếp của hắn xách va-li từ phòng họp lên trực thăng ngay lúc nhận được cú điện-thoại khẩn từ Sàigòn. Hắn nằm trong căn cứ Long-Bình một đêm khắc khoải, lo-âu. Nhưng hắn vẫn chạy sớm hơn nhiều đồng đội của hắn vì hắn liệu rằng — nếu ở lại, sự phẩn nộ của anh em bơ vơ (như rắn không đầu) lúc đó sẽ trút lại hết cho tụi còn ở lại như hắn lãnh đủ, dưới hình-thức nào không biết. Ai còn có thể biết được điều gì rõ-ràng vào những ngày cuối cùng ở một tiền đồn? Căn-cứ Long-Bình mà là tiền đồn ư? Vâng, đúng như vậy. sư-đoàn 18 Bộ-Binh — sư-đoàn Hoàng-Gia — đã đánh được một trận đáng gọi là xứng tay cho một sư-đoàn do tướng Lê-Minh-Đảo làm tư-lệnh. Nhưng đó là sự bùng lên của một ánh đèn tàn.

Sau đó, mặt Bắc Biên-Hoà bỏ ngỏ. Còn lữ-đoàn 3 Kỵ-Binh thì giải-tỏa, cầm canh phía Long-Thành, để rồi từ một lữ-đoàn Kỵ-Binh (chuẩn bị chu đáo đầy đủ mọi nhu-cầu mỗi khi sắp sửa ra quân) trở thành một tiếng vang không âm-hưởng. Vì sao? May ra chuẩn-tướng Trần-Quang-Khôi có thể biết nhiều hơn hắn về việc này. Phía Đông bị nghẽn từ ngày 26/04/1975. Phía Tây căn-cứ là Biên-Hoà. Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn III chỉ còn là những cú điện thoại “chịu trận” của đại tá Phan-Huy-Lương. Sư-đoàn 3 Không-Quân không có phản ứng nào khi hai chiếc phi cơ “hình thù thì giống của ta mà đã được sơn màu khác lạ” tha-hồ tung hoành bắn phá gần một tiếng đồng-hồ. Căn-cứ Long-Bình, trong đó có hắn, là tiền đồn bất-đắc-dĩ của phía Bắc Sài-Gòn từ chiều 27 tháng 4 năm 1975.

Phải, hắn đã chạy sau và trước là như vậy. Nếu có ai chê hắn hèn, hắn phải chịu vì tự hắn đã biết rằng không đánh mà bỏ chạy là hèn. Bài học vỡ lòng (khi hắn là lính tò-te vào quân-trường) đã dạy hắn rõ-ràng. Có nhiều việc đáng làm trong đêm dài dằng-dặc đó mà hắn không thể quyết định để làm, hay cho làm như phá các kho xăng, và nhất là phá kho đạn 534. Phá thì rất dễ, sẵn kế-hoạch phá huỷ nằm trong hồ-sơ mật. Nhưng... ai ra lệnh? Những chức quyền hữu trách đều đi “họp ngày họp đêm” ở đâu hết rồi. Thật ra, hắn có thể liên lạc với thiếu tá Dương-Thượng-Từ thì “cha này” là tổ-sư liều, dám làm lắm! Điều mà hắn sợ nhất: còn lại trong Kho 534 8 trái bom (daisy cutter?), loại mà Hoa-Kỳ đã lấy đi 3 trái để thả vào mặt trận Long-Khánh, khớp im ba sư-đoàn Việt-cộng, và giảm đà tiến quân của chúng ngót một tuần. Nếu 8 trái này không phải là huyền thoại, là bom giấy, là “mộng giữa trưa hè”, mà là 8 trái bom thật, mỗi trái 18,000 lbs.*, thì khi kho đạn nổ 8 trái bom này (nếu có nổ !?!) thì... e Biên-Hoà, Sài-Gòn, trong đó có hắn, thành bãi hoang một thời hạn khá dài.

Tất cả những việc đó, đã thành dĩ vãng. Một dĩ vãng thật sống động, có rất nhiều khả năng hành hạ. Mỗi lần nhớ đến, hắn vẫn còn ứa nước mắt. Mất nước là nhục, thua trận bỏ chạy là hèn, làm sao hắn có thể quên những điều chua-xót đó! Từ ông nội hắn trở xuống, có truyền thống là phải mang chua xót vì quốc biến. Ông nội hắn là một nghĩa binh kháng Pháp. Sau mấy trận theo Thủ-Khoa Huân thua liểng xiểng, lại lò-mò về làng, hò hẹn đồng-chí rèn siêu đao, luyện tập mấy tháng liền, rồi với những khí giới thô sơ đó, họp binh đánh đồn Sa-Đéc. Lính Tây lính ta trong đồn bắn súng “mút-cờ-tôn”, các ông lớp chết, lớp bị thương, còn thì chạy toé khói. Đến lượt ba hắn vào khu kháng chiến mùa thu 1945, bị cộng-sản làm áp lực buộc nhập đảng, ông không chịu, chúng nó rượt ông chạy về thành, ở trong vùng giặc tam tài chiếm, để còn sống... ngoài vòng cương toả của giặc cờ đỏ.

Ngày nay đến phiên hắn. Vì không chịu chết, vì không chịu bị cộng-sản lừa gạt, vì không chịu được ý niệm sẽ làm tù-binh của cộng-sản, hắn phải lưu lạc xứ người. Ông nội hắn không bị giặc truy tầm sau khi chiếm hết sáu tỉnh Nam-Kỳ, nên ông còn được sống trong một làng hẻo lánh. Cha hắn dù vẫn bị cộng-sản theo dõi ám hại, nhưng khi ông thôi chống giặc, thì giặc để ông sống yên trên đất tổ quê cha. Riêng đến hắn, vì phải chọn: còn hết hay mất hết khi miền Nam bị cưỡng chiếm, hắn đoán biết số phận nào cộng-sản dành cho người thất thế. Hắn chỉ có một con đường: chạy ra sống vất vưởng ở xứ người.

Hắn cũng chẳng sợ gì những gian-nan dành cho hắn trên bước đường vong quốc. Những cảnh ngược-ngạo đoạ-đày tinh-thần nhiều hơn thân xác hắn đã lần lượt vượt nếm qua.

Hai mươi hai năm lính, hắn đâu biết một nghề gì để thích ứng với xã hội tiền tiến về kỷ thuật và đầy dẫy những tiện nghi cung ứng đủ các nhu cầu từ cần thiết đến phù phiếm. Người bảo trợ, ông mục sư “chân chỉ hạt bột” đã đưa hắn vào làm một xưởng đóng đồ hộp. Mùa hè 1975, khi mùa bắp đến, hắn vào làm xuất chiều từ 2:00 đến 12:00 giờ đêm. Đẩy lá bắp. Những núi bắp trái tuôn ào-ạt vào máy. Máy lột lá bắp riêng để chọn những trái đều đặn, trẩy hột, v.v... Dọc theo dàn máy, dài chừng 50 thước (150 bộ), có những khe hở, những lá bắp lạc theo khe hở rơi xuống, chất chồng lên nhau thành đống. Vì những khe hở lớn, đống lá bắp mau cao. Hắn dùng một cái đinh-ba như của Trư Bát Giới ngày xưa theo thầy Tam-Tạng thỉnh kinh, đặc biệt hữu dụng để dọn truông Thất Tuyệt; hắn chỉ đẩy các đống lá bắp kia xuống rãnh có trục lăn đưa lá về một cái máy nghiền, để xay nát lá bắp làm phân bón.

Mỗi bên dàn máy khoảng 30 khe hở, nên tất cả là 60 đống lá bắp phải đẩy; đẩy hết 30 đống bên này, quay sang đẩy 30 đống bên kia. Vừa dứt 60 đống rác, quay nhìn trở lại, thì nó lại nghiễm nhiên lên cao gần đầu gối. Lúc vào đầu buổi, còn khoẻ hắn đẩy tương-đối nhẹ nhàng. Nhưng từ cuối giờ thứ hai trở đi, hắn phải xoạc hai chân đứng đinh tấn (bộ tấn đầu tiên hắn học võ Thiếu-lâm, bài Mai Hoa Quyền, khi hắn còn cởi truồng tắm mưa), nắm chặt cái đinh ba đẩy theo thế “thội cung quán thạch” (thế này nằm trong bài nào hở?) lần lượt đưa mấy đống lá bắp lên đường... thành phân bón. Tay chân hắn rắn chắc lại như hồi xưa tập tạ, hít đất. Nhưng hữu ích hơn vì mỗi giờ lao động vinh quang như vậy, hắn được trả $2.25. Nuôi miệng, nuôi vợ. Có đồng ra đồng vào phụ thêm vào tiền trợ cấp an ninh, cho ra vẻ ta đây quyết tâm xây dựng, tự túc càng sớm càng hay, không hề có ý-định nhờ vã dài dài vào ông Gerald Ford thời đó. Chỉ tội cho cái lưng hắn. Cái lưng chỉ dài có sáu tấc (cộng với 7 tấc chân và 20 phân đầu cổ cho đủ 150 phân) mà quần quật suốt 10 tiếng đồng hồ, thành ra nó dài thành gần cả tầm đo đất. Đến khuya mãn giờ, ra về, tắm rửa cho bớt mùi lá bắp, hắn loay hoay xếp mãi cái lưng của hắn vào giường mà không hết được.

Nhưng hắn chấp nhận hoàn cảnh một cách rất ung-dung và yên lặng để vợ con hắn khỏi xao lòng. Bầy con hắn lao nhao năm đứa chưa biết lo, cũng chẳng biết sầu. Điều mà hắn sợ nhất là các con hắn sẽ bị “hội nhập” sớm vào cái cộng đồng 4,567 người Mỹ gốc Đức ở cái làng hẻo lánh phía Bắc này. Ra ngẩn vào ngơ, chỉ có hai vợ chồng và năm đứa con là người Việt. Hai đứa nhỏ tiến bộ thấy rõ ràng trên đường... học tiếng Mỹ. Năm người còn lại thì phụ đề bằng tay nhiều hơn mỗi khi có cơ hội giao-tế với láng giềng. Nhưng dù sao, hắn cũng phải đào thoát một lần nữa: đào thoát cái vòng vây của nhà thờ bảo trợ đã rủ gia-đình hắn theo đạo Lutheran.

Đùm túm gánh gồng một chuyến xuôi Nam 1,500 dặm, suýt chết thằng con trai trưởng dọc đường, để chuyển cái “bè Thuỵ-Hương” của hắn về miền nắng ấm, có nhiều cây cỏ chim-chóc na-ná giống ở miền Hậu Giang — nơi hắn đã sinh ra, lớn lên, và hắn còn rất nhiều thiết-tha gởi gấm nơi đó. Ôi làm sao ta “mang được quê hương theo dấu thảo hài?” (Cha nội nào làm câu thơ với thi-tứ não-nùng như vậy?) Về đây, có những cảnh gợi mơ hồ đường xưa lối cũ: như những vệt sương trắng chăng ngang trên đường đi buổi sáng, như trận mưa lũ với rất nhiều sấm chớp động giăng, như con sông cạn chạy quanh co theo xóm, nhắc nhở rất nhiều con rạch nhỏ mang phù sa trải hồng ruộng rẩy quê nội của hắn vào mùa nước dâng hàng năm. Nhớ quắt quay những ngôi nhà lợp lá ở vùng xuôi, còn thấy rõ hình ảnh các xóm lao động lợp tôn chen chúc Khu Bàn Cờ, và... những khung trời thu hẹp mà thân thiết của những đồn trại mà hắn lần lượt đi qua và tạm trú gần phân nửa cuộc đời. Và một bụi chuối sau hè nhà ai trong xóm phất phơ giăng lá đón gió chiều làm lòng hắn rưng rưng. Lại thêm dáng gầy của hàng trúc làm bờ rào trên một nẻo đường hằng ngày hắn đi qua khiến hắn thấy nhớ quê nhà mà khỏi phải châm điếu thuốc; khói buồn vẫn kéo mờ đôi mắt hắn, khi nghe bùi ngùi nhớ tiếc không khuây.

Có một năm hắn đi làm tiện-sĩ, ca hai, từ 3:00 giờ chiều. Tết năm ấy rơi vào ngày làm việc. Tối 30, hắn lủi thủi ra về, lái xe đón giao-thừa trên xa-lộ. Đêm giao-thừa thiêng-liêng ở đâu? Khói hương nơi nào nghi ngút, ở đâu thờ phượng trang-nghiêm? Trên xa-lộ đèn vàng hun hút, tiếng nhạc trong cassette để làm tỉnh ngủ lúc lái xe đưa ra câu: “Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương.” Hắn đã khóc âm thầm trong nỗi đau đơn-độc, khi hắn thốt nhiên gặp hắn vào giờ giao-thừa vừa lạc-lõng, vừa ngỡ-ngàng.

Hắn chợt nhớ đến bàn thờ “Ông Thiên” sân nhà hắn, dưới bóng rợp một cây ngọc lan về đêm toả hương thơm ngát; hắn lại nhớ thêm mấy cây mai trước nhà: năm cây. Cây mai vàng hoa 10 cánh ở giữa, với hai cây mai tứ quí mỗi bên. Hoa mai giờ này chắc đã nở tưng bừng hay theo số phận của loài thảo-mộc tiểu tư-sản: bị đẳn đi sát gốc, nhường chỗ cho ngô-sắn vươn lên?

Rồi từ hôm đó, hoa mai đã trở thành ám ảnh. Hắn thiết tha ước ao có một cành mai, có một cây mai. Như Mạc Cửu ngày xưa, khi chạy đến Hà-Tiên đã cố trồng được một cây bạch mai để tâm-tư có một chỗ hướng về trong bước đường vong quốc. Hắn là ai mà dám nghĩ đến Mạc-Cửu, khi suy gẫm thân-thế mình? Dù sao, hắn cũng cố bắt chước người xưa: gây cho được một cây mai, loại mai bình dân, mai tứ quý, dễ kiếm dễ trồng.

Hắn cần cù viết thơ về thăm bè-bạn, những anh không may-mắn được làm “ngụy quân” ngày xưa nên còn được ung dung. Thư đi thư lại, xin tới xin lui; một thằng bạn hắn, cảm thông niềm đau nỗi nhớ vì biết tính nết hắn hồi còn trung học, đã gởi cho hắn khoảng 20 hột mai đen nhánh kèm theo thư bảo là mai tứ-quí, sau mùa Tết mới tàn. Bọc hột mai đen được gởi dấu trong gói sách cũ: một cuốn Lục Vân Tiên mà bạn hắn tìm mua được ở chợ trời. Được gói hạt mai, hắn gọi vợ con khoe rối rít. Rồi đem ương đợt I, 10 hột ngoài sân.
Mỗi chiều đi làm về, hắn ra chỗ đã gieo 10 hột mai quý báu, chờ hạt mai nở mầm như tín đồ chờ phép lạ. Một tháng trôi qua, không có triệu chứng nào là phấn khởi vươn lên cho một niềm hy vọng đầy đủ yếu-tố để kết thành.
Không gieo ngoài sân nữa, lần này hắn ương 10 hạt mai còn lại trong chậu để chăm sóc kỹ càng hơn. Trong khi chờ đợi, niềm hy-vọng mà hắn quay về gửi gấm vào lòng chậu, hắn đã lần hồi tìm những hạt mai đã gieo ngoài sân. Mỗi hạt mai tìm được đã nát rửa vỏ ngoài, chỉ còn cái lõi xanh úa bên trong. Sao kỳ vậy? Chắc nhiều người đã biết rằng các hạt mai — nhất là mai tứ-quí — đến cuối mùa Xuân thì rơi rụng vung vãi quanh gốc, để rồi sau một vài cơn mưa, hạt nẩy mầm thành cây dễ dàng, kể cả những hạt lộ thiên, tức là nằm khơi trên mặt đất. Thế tại sao ở đây, hạt không ung thối, sâu mọt không ăn, mà lại đầy đủ phân bón, nước tưới thay mưa, và ánh sáng mặt trời, mà không có nổi một mầm nở dùm cho hắn.

Lại một tháng nữa trôi qua, 10 hạt mai ương trong chậu cũng bằn-bặt cơn trầm mê bất động. Hắn thất-vọng vì một ao-ước thật nhỏ nhoi, rất chí thành, mà cũng không thành tựu được.

Hắn lại viết thư về xin bà nhạc, tìm những hạt mai của mùa Xuân kế tiếp. Trong khi chờ đợi, hắn vẫn băn-khoăn tìm hiểu. Hay tại trái mùa sai tiết, hay tại hạt mai không kịp chín mà bạn hắn đã gấp rút hái gởi sang? Nhưng mai là giống chịu nổi mọi thời tiết, như mọc trong đồng hoang, ngoài rừng Thủ-Đức, có ai chăm bón gì đâu? Có khi mai lại mọc ở khe núi hốc đá chênh vênh, không có nhiều đất cát. Và ở những vùng giá lạnh, vẫn có mai. Nếu dựa theo lý thường thì hạt tốt được gieo tất phải nở. Vậy ở đây, những duyên cấu tạo một cây mai — mai bình dân, mai tứ-quí — hắn đã quên sót duyên nào?
Hơn một năm sau, gói quà chờ đợi lại sang, mang theo lần này gần 60 hạt mai đen nhánh. Lần này kỹ càng hơn, hắn gieo 20 hạt ngoài sân, 20 hạt trong hai chậu. Với niềm vui là ít nhất sẽ có được vài hạt nẩy mầm. Nhưng mùa Xuân lại trôi qua, “bên ngoài muôn vạn bông trời nở, duy có mầm mai chăng nẩy thôi.” Thật là thất-vọng não-nề, và hắn lại bâng-khuâng nghĩ rằng mình đã chẳng may mắn bằng Mạc-Cửu.

Cây bạch mai theo Mạc-Cửu lưu vong được đem trồng trên lưng một ngọn đồi ngoại ô Hà-Tiên và bám vào đó mà sống. Có phải chăng vì thời ấy chưa có rào quan-thuế nên cây bạch mai được bình yên để lần hồi phục tòng phong thổ? Dù vậy, nếu ai có giao-cảm được với hồn cây bạch mai, chắc đã được mai tiết lộ nguyên do nào mà cứ mỗi độ đơm hoa, thì nhiều nụ lại trổ trên những cành chầu về hướng Bắc!

Hắn lại lẩn thẩn nghĩ rằng những hạt mai tứ-quí trước khi đến với hắn đã bị áp bức dọc đường. Như hắn, khi bước chân lên bến tàu ở đảo Guam, hắn bị xịt thuốc sát trùng, buộc phải đi tắm, và thay quần áo chim cò. Qua trạm kiểm soát nào đó, hạt mai tứ-quí còn hình-thể đó, mà đã bị cơ quan nhập cảnh diệt đi một phần nào của sự sống rồi. Như hắn, khi trút bỏ quần áo màu xanh “cứt ngựa,” hắn còn nguyên thân-thể đó, mà thật ra, hắn có còn là hắn nữa đâu?
Chua xót hơn, hắn thầm thương cho những hạt mai tứ-quí nằm trong đĩa men trắng nơi đây, như hồn mai tứ-quí còn chưa rời cách cội ngành. Như những hạt mai, hơn 10 năm, hắn sống nơi đây: đi, đứng, nằm, ngồi, thuận chiều bốn khoái, nhưng hồn hắn vẫn lất lây phiêu phưởng bên cạnh mẹ già còn sống trong niềm đợi mong vô hy-vọng, hoặc vấn-vương về khu mộ tổ ở xóm Bà-Đồ, cạnh đường lộ Bình-Thuỷ – Trà-Nóc, bên bờ sông Hậu ngầu đục phù sa.

Hắn nhớ quắt quay nơi chôn nhau cắt rốn của hắn. Hắn nhớ đoài đoạn những nơi hắn sống thời thơ ấu. Những nơi hắn đã đến để ghi vào lòng những địa danh của xứ sở, những nơi hắn dừng chân khi hắn theo đơn vị hành quân. Những giấc mơ dù êm dịu hay hãi hùng trong hơn 10 năm qua, không bao giờ được lồng vào phong cảnh xứ người, mà vẫn là những diễn biến chập-chùng trong khung trời Việt-Nam thương mến. Có khi tỉnh giấc, mắt hắn còn ướt. Nghĩ đến thân-phận đang là kẻ vong-quốc, nghĩ đến bọn cộng-sản mà hắn xem là quốc-thù tim hắn lại bừng sôi.

Dọc bước lưu vong, theo dấu tiền nhân kiên gan khắc phục gian lao, mưu toan phục quốc, hắn nể phục Câu Tiển vì Câu Tiển có đủ gan nhịn nhục, chờ cơ-hội báo thù. Nhưng hắn không thích Việt Vương Câu Tiễn vì hắn cho Việt Vương là người tàn nhẫn, thủ đoạn và bất nhân. Khi sa-cơ, mất hết quyền hành thì lễ-độ, khiêm cung với quần thần, từ-tốn hạ mình, lời nghe kế theo. Đến lúc nắm lại được thời cơ, thì trở thành kẻ vô ơn bạc nghĩa, hiếu sát, tâm địa sắt máu, không có tình người.

Nghĩ miên man đến những người đang lang thang ở hải ngoại, hắn lại mến mộ nhiều về con người “Nguyễn Ánh của thời tẩu quốc.” Vào cái tuổi 17 mà tụi con của hắn chưa học xong trung-học, Nguyễn Ánh đã cầm quân bắt đầu vừa đánh vừa chạy. Vào cái tuổi mà thanh niên hiện nay ở hải ngoại la-cà các vũ-trường quán nhạc, Nguyễn Ánh đã vừa đánh vừa giữ những nơi chiếm được làm căn-cứ. Rồi từ đó, lần hồi thắng được Tây-Sơn để dựng lại sự-nghiệp của ông cha. Nhưng hắn mến mộ Nguyễn Ánh bao nhiêu, thì hắn lại ghê sợ vua Gia-Long bấy nhiêu vì vua Gia-Long đã phủ-nhận công lao của người đã từng đầu tên mũi đạn suốt mấy mươi năm, tạo thời cơ cho Nguyễn Ánh phục quốc, để rồi vin vào lỗi của Thuyên (là đứa con) khiến Tiền-quân Nguyễn Văn Thành, một tướng lãnh tài kiêm văn võ, đành oan uổng thọ-hình.

Và mỗi khi đọc lại Việt-Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim, hắn lại thương nhiều cho thân-phận của Lê-Chiêu-Thống. Vì ai cũng vậy, thấy phải mới làm. Trong mọi cuộc tranh-chấp, người nào cũng nhận phía mình đang đứng là có chính-nghĩa. Lê-Chiêu-Thống chỉ là một vị vua nhà Lê, thì tất nhiên cơ-nghiệp họ Lê là quan-trọng; quyền lợi của nhà Lê là tối cao. Từ xưa cho đến lúc bấy giờ, Trung-Hoa luôn luôn là cường-quốc của Đông-Á, thì việc Lê-Chiêu-Thống nhờ nhà Thanh là con đường duy nhất của thời đó. Vì nhờ nhà Thanh, nên cho đến ngày nay, nhiều người còn thống-trách Lê-Chiêu-Thống, kể cả hắn lúc còn cắp sách đến trường, bắt chước phụ-huynh, ngoác mồm ra mắng chửi Lê-Chiêu-Thống là rước voi về dầy mả tổ, v.v... Nhưng gần đây, hắn đọc lại chính sử (cho đến bây giờ Việt-Nam Sử-Lược của cụ Trần-Trọng-Kim vẫn là chính-sử đối với hắn), hắn thấy ba điều mà phúc tôi nhà Lê cầu cạnh với vua Càn-Long thời đó đều bị bác khước, nên vua tôi đành cam tuyệt vọng trong cảnh lưu vong kể cả sự hi-sinh vô-ích của Nguyễn Văn Quỳnh bị đập chết trước vườn Viên-Minh.

Hắn thương tâm mỗi khi đọc đoạn... “Sử chép rằng, khi đào đất lên để cải táng mả cố quân thì thấy thịt da đã tiêu cả, chỉ còn có quả tim không nát, vẫn đỏ như thường” (VNSL, quyển II, trang 140). Ôi! Thật là chua xót cho một kiếp người, sống thì lao-tâm khổ tứ để mưu toan phucï-nghiệp, chí nguyện không thành, dù chết đã bao nhiêu năm, niềm u-uất chưa tan! Quả tim nguyên vẹn của Lê-Chiêu-Thống có phải chăng là kết-tinh của nỗi oán hờn đối với nhà Tây-Sơn mà khi sống, ông xem là kẻ tử thù, cộng thêm niềm tủi nhục vì biết mình sai lầm khi lỡ mong nhờ vào một cường lân man-trá. Quả tim còn nguyên vẹn đó có nói lên được sự trung-kiên của một cháu con đối với giòng họ? Hay niềm chân-thành của một người vong-quốc yểu mệnh (chỉ chừng 28 tuổi) đã làm hết sức của mình và đắng cay trong sự thất-bại ở mọi mưu toan và vận-động để phục hồi cơ-nghiệp của tổ tiên?

Hắn chua-chát nghĩ rằng: dù có bị hậu-thế nguyền rủa, Lê-Chiêu-Thống còn có một quả tim ưu-quốc, chất-chứa nhiều u-uẩn, để về sau, được nhà Hậu Nguyễn cho đem về đất Việt. Những người Việt đang lưu-vong khắp bốn phương hải ngoại, trong đó có hắn, liệu có ai còn có một quả tim ưu quốc để được mang về? Vì sống thì phôi-pha tình nghĩa, quên thân phận, vội-vã lăn vào để hội-nhập với cõi tự-do. Nay mai chết đi, nhất là ở đất nhiều phương-tiện kỷ-thuật này, những kẻ chết đi được trình-bày đẹp đẽ má thắm môi hồng, nằm im như ngủ. Chớ sự thật thì tim, gan, thận, mật đã bị moi đi và vất vào một thùng rác nào đó một cách phủ phàng, chờ đem sát trùng và huỷ diệt. Sống đã không tâm-chí, thì chết cần gì còn có một quả tim!

Vì hoàn-cảnh không đặc biệt như Lê-Chiêu-Thống, cũng không phải là Lê-Chiêu-Thống, chắc chắn hắn không có một trái tim nguyên vẹn được để mang về. Vì nay mai hắn chết, đem hình hài mà thiêu hoá đi, chưa chắc cháu con của hắn có còn giữ được và chịu mang về dùm hắn! Vì thiết tha với đất tổ quê cha, cho nên đến bây giờ, hắn chưa chấp nhận rằng hắn sẽ chết để rồi vùi xác hay đem thiêu tại đây. Hắn cũng không chấp-nhận được ý nghĩ chờ bình-yên, khi bạo quyền hiện tại đổi thay thái-độ, cho hắn trở về thăm quê-hương như du-khách. Vì như thế, thì hắn chỉ là một người du-khách nói được ít nhiều tiếng Việt. Như thế thì cái sống hiện tại của hắn chỉ là cái sống tha phương cầu thực, mà hắn chỉ là túi cơm giá áo. Cho đến bây giờ, hắn chưa chấp-nhận được ý niệm đó. Hơn thế nữa, hắn cũng chưa chấp-nhận là hoàn-toàn thua cộng-sản Hà-Nội, dù hắn đã chạy như thiên-hạ cách đây hơn 10 năm. Hắn không chấp-nhận rằng: mọi sự đều buông xuôi, tất cả mọi người đều buông xuôi, chấp-nhận cộng-sản Hà-Nội ngự trị Việt-Nam, như tế bào ung-thư ngự trị trên óc, trong gan, và bệnh nhân khi biết bị bệnh nan-y rồi, phó mặc chờ ngày chết.

Vì nếu tất cả đều buông xuôi và chấp-nhận như vậy thì những người như hắn chỉ là những người đã chết chưa chôn, sẽ bị đời sau sỉ-vả. Chắc chắn là như vậy. Cuốn phim mười mấy đoạn chiếu trên đài truyền-hình cách đây hai năm là màn mở đầu.

Bọn cộng-sản Hà-Nội sẽ chép vào sử rằng: chúng đã thắng bọn nguỵ quyền Sài-Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ. Rồi dịch thành tiếng Mỹ, thả đầy tràn vào các thư viện. Mười năm sau, con cháu hắn lớn lên, muốn tìm về nguồn gốc, đọc được các sách này, chúng sẽ ngoác mồm ra chửi hắn, như trước kia hắn đã chửi tiền-nhân vào những lúc bốc-đồng, vô-tích-sự.

Vì không chấp-nhận vạn-sự bị buông xuôi như vậy, nên dù là “Mỹ giấy,” nhưng tâm-tư hắn, tiềm-thức hắn không nhìn nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Đối với hắn, sống ở đây là sống nhờ sống tạm, để đợi chờ. Thời thế? Cơ hội? Gì thì hắn chưa biết rõø. Nhưng có điều chắc chắn là hắn rất thiết tha với những tin kháng chiến ở quốc nội, những sự vận động luân-phiên của các đoàn thể ở hải ngoại, những tin nhân dân miền Nam bất mãn với chế-độ áp-bức của cộng-sản, những tin thanh-trừng nội-bộ của bè lũ Hà-Nội: hoặc vì đã đến lúc không còn dung túng được nhau, hoặc vì có những người vừa thoát khỏi cơn mê bằng bặc suốt 30 năm nghe thấy một chiều, bị lừa dối bằng những luận-điệu tuyền truyền xảo-trá.

Hắn nôn nao hy-vọng tất cả các cơ-duyên hội tựu đủ tạo điều-kiện thuận-tiện cho một cuộc vùng lên toàn diện từ Nam ra Bắc. Dù rằng còn rất nhiều gian-hiểm đòi hỏi sự hi-sinh vô-vàn của đồng-bào ở quốc-nội, còn rất nhiều khó-khăn đòi hỏi sự cố gắng vượt bực không ngừng của tất cả các đoàn thể ở hải-ngoại. Và cũng còn rất nhiều khổ-tâm cho những người dấn thân: làm không được cũng bị chửi, vừa làm được một chút gì lại bị chửi nhiều hơn, có khi chửi rất tận-tình, cạn tàu ráo máng, sỉ vả nhau như hàng tôm, hàng cá hồi bên nhà, tranh hơi với nhau từng chút, xâu xé nhau quyết-liệt như với kẻ tử thù, trong khi đó thì bọn cộng-sản ở Việt-Nam chưa chết một thằng nào.

Hắn hy-vọng có một cuộc vùng lên toàn diện từ Nam ra Bắc để lập đổ chế-độ cộng-sản Hà-Nội để ít nhất hắn có cơ-hội nhập cuộc một lần trước khi hắn xuôi tay theo ông bà ông vải. Dù còn phải ở lại đây, hay có cơ-hội được một lần về Việt-Nam thì còn dám ngẩn mặt mà đi; dù có còn đủ điều-kiện để trở lại làm lính hay không, dù có muộn đối với hắn vì tuổi đã quá ngũ tuần, chưa phải đến mức già trối chết, nhưng cũng không còn trẻ nữa.

Nếu không được một cơ-hội như vậy, trước khi quá muộn, chắc chắn tâm-tư hắn sẽ cằn khô, thân-xác sẽ héo mòn chờ chết như những hạt mai tứ-quí kia vì không phục-tùng thuỷ-thổ, không chịu nẩy mầm, nằm chờ mục. Hắn xót-xa thấy được: Không có điều gì thê-thảm cho bằng — những người đồng cảnh ngộ với hắn sẽ héo mòn, khô cằn và lần hồi tàn lụn... NHƯ NHỮNG HẠT MAI đang nằm chờ hư rả ở đây!!!



L o n g T u y ề n
cuối 1985

Image


12518



Image


s ư .L I Ễ U .T R Í .
____________________________________________________________________________



Tục tánh của sư là Mai, tục danh của sư là Như Mai, sinh quán ở duyên hải Trung phần Nam Việt-Nam.

Năm loạn Ất Mão, xích hồ tràn chiếm trọn vùng Đồng Nai Cửu Long. Như nhiều đồng bào không chấp nhận sống chung với ác quỷ, Mai quân vượt biển ra khơi. Rồi hoàn cảnh đẩy đưa, quân chạy đến tạm trú ở bờ Thái Bình đất Hoa-Kỳ. Một thân trơ trọi, quân đem tất cả thời giờ và tâm huyết dâng hiến cho cuộc đấu tranh âm ỉ tiếp tục ở hải ngoại, mưu lật đổ bạo quyền đang khống chế Hà-Nội.

Bản chất hăng say đến độ cuồng nhiệt, cương quyết gần mức sắt máu, Mai quân thề không đội trời chung với rợ xích hồ đang đày đọa con dân Đại Việt một cách bạo tàn như: lao cầm bại binh ở những vùng lam sơn chướng khí, như đày lưu xứ gia đình quyến thuộc của những người thất thế mà chúng gọi là ngụy quân, như kềm kẹp khắc nghiệt đối với lương dân thật thà đã trót tin chúng là đồng bào. Chúng dùng thủ đoạn hạn chế thực phẩm — mà chúng gọi là hộ khẩu — để kiểm soát dân đinh, mà cũng để trói buộc dân chúng phải phục tùng chế độ hầu được có ăn lây lất sống cầm hơi qua ngày.

Từ đặt chân lên đất Hoa-Kỳ, Mai quân tích cực dấn thân, đêm ngày lo lắng, bôn ba khắp nơi tìm đồng chí để cùng mưu toan đánh đổ bạo quyền xích hồ đang tàn ngược nhân dân Đại Việt.

Vào cuối năm vong quốc thứ sáu, Mai quân có ghé lại thành phố Hưu Tân gặp anh em đồng chí. Trong khi thảo luận, Mai quân hăng hái phát biểu. Lời lời căm hờn như bốc lửa, ý ý hận thù cao ngang mây. Con người tranh đấu của Mai quân bấy giờ toát hơi bầng bầng nóng bỏng gay gắt hơn nắng trưa hè, đanh thép như lưỡi kiếm mới được mài trên đá. Nhìn Mai quân lúc đó, mường tượng thấy tiền nhân bất khuất thời tẩu quốc ngày xưa.

Nhân một phiên họp để tìm phương tiện chống lại rợ xích hồ, khi đề cập đến sự trung thành đối với đảng phục quốc mà một thành viên đã lập thệ, Mai quân nói: “Gia nhập đoàn thể đấu tranh không phải để hưởng lợi, đã dấn thân là dâng hiến trọn cuộc đời. Ở một mức độ thấp, chọn đoàn thể giống như lấy vợ. Đã thề nguyện trung thành thì phải trung thành cho đến hơi thở cuối cùng. Không thể nhất đán mà rời bỏ đoàn thể không sinh hoạt. Hoặc giả, nếu muốn rời bỏ hay ngưng sinh hoạt, phải có lý do hệ trọng chánh đáng. Cũng như ly dị vợ, phải có lý do hệ trọng chính đáng”.

Rồi Mai quân lại lên đường đi nơi khác, tiếp tục nhiệm vụ của mình. Lần hồi sau đó, tin tức về Mai quân càng ngày càng thưa thớt, rồi im bặt.

Bẵng đi mấy năm không liên lạc, ai cũng đinh ninh rằng Mai quân đã âm thầm về quốc nội, lo liên lạc anh em đồng chí cũ để mưu diệt rợ xích hồ. Cho đến một hôm...

Nhân lễ hội kÿ chư tổ Phật Giáo Nguyên Thủy do hòa thượng Tịnh Đức chủ trì, bỉ nhân đến viếng chùa Bửu Môn (vừa tậu lại ở khu Hoàng Kim Tam Giác). Trong nhóm phật tử lăng xăng quét dọn, thoáng thấy một tăng lữ dáng dấp quen quen. Chốc sau, sư đến gần, lên tiếng: “Mô phật”. Bỉ nhân ngơ ngác, rồi băn khoăn. Giọng nói đó, nét mặt đó đã thấy ở đâu, nhưng người xuất gia này cùng mình không quen biết. Thấy bỉ nhân ngỡ ngàng, sư mỉm cười chào, rồi đi lo phật sự vì sắp đến giờ hành lễ.

Cố moi trí nhớ không ra, vì giọng nói đó, nụ cười đó làm sao quên được! Đi mấy bước, kỷ niệm tựu về, thảng thốt kêu:
- Ơ! Sao mà giống Mai Như Mai?
Và quay lại, thì thấy sư đang lặng lẽ đứng nhìn mỉm cười. Bỉ nhân bước lại gần, đánh bạo hỏi:
- Xin đại sư thứ lỗi, có phải đấy là danh tánh của người lúc người còn ở thế gian?
Sư cười thành tiếng:
- Chính là tiểu tăng.
Một giây bàng hoàng:
- Giờ thì phải xưng hô thế nào đây?
– Tùy thí chủ, trước ở ngoài đời, chúng ta là đồng chí, là chiến hữu. Bây giờ dưới hiên của Phật, chúng ta là đạo hữu. Năm xưa bần tăng gặp thí chủ ở nơi phồn ba náo nhiệt, luận chuyện nạn dân ách nước, âu cũng là duyên. Hôm nay, bần tăng gặp thí chủ ở đây trong ngày hội kÿ chư tổ, âu cũng là duyên.

Từ đó, câu chuyện chuyển sang thuần về đạo lý tu hành. Mơ ước cũ thành sương khói, ý chí đấu tranh chỉ còn là một pháp huyễn của phàm trần. Và nhân dịp, được sư cho biết pháp danh của người là Liễu Trí.

Vốn theo nếp nhà mộ đạo, bỉ nhân quy y từ năm 12 tuổi. Dù thành tâm sùng kính Phật, nhưng từ buổi lưu vong, bỉ nhân đành chịu loay hoay trong tục lụy. Biết rằng ví kiếp này có gặp được Phật đi nữa, cơ may ấy cũng chỉ tạo chút duyên tri kiến mà thôi. Bởi trót sinh làm con dân Đại Việt, thì đành vướng oan khiên. Đã học tập trút bỏ khá nhiều phiền não, vẫn còn một pháp chưa dứt được: lòng vẫn quặn đau khi nghe ai nhắc đến tai ương đang phủ trùm đất nước, máu trong tim vẫn bừng sôi mỗi khi nghe nhắc đến rợ xích hồ.

Dù đã nghe dạy rằng: “Mê là Chúng-sinh; Tỉnh là Phật. Mê là vô minh, Tỉnh là chân như. Mê là Pháp, Tỉnh là Tâm”, tâm bỉ nhân chưa rời khỏi cơn mê dằng dặc: trong đó, bọn xích hồ là ác quỷ đang biến giang sơn Đại Việt thành một đại địa ngục để giam nhốt 62 triệu con dân Tiên Long. Trong cái địa ngục đó, hàng vạn chiến hữu của bỉ nhân còn bị sanh cầm hành hạ, hằng trăm thân nhân quyến thuộc của bỉ nhân đang chịu đói rách lầm than. Bỉ nhân rất mong mỏi một Đức Phật giáng lâm xuống tại cõi bờ Đại Việt, riêng cho thần dân Đại Việt, và xin Phật độ tận chúng sinh Đại Việt, đang chết lần mòn trong bễ trầm luân do lũ ác ma lòng đen miệng đỏ chiếm trị.

Đại sư cho hay rằng sẽ về Ngưỡng Quang để học Phật, hầu sau này cứu độ thế nhân. Thế là đại sư đã thoát được tục lụy, trong khi đồng bào của đại sư còn đắm chìm trong khổ ải. Âu cũng vì vận nước chưa thông, nên khiến một người có hùng tâm tráng khí như đại sư lại “bỏ hết mà xuất thế” để cầu được “Bồ đề”.

Nếu cơ duyên khiến những giòng này được lọt vào mắt đại sư, thì cầu mong chuyến đi Ngưỡng Quang của đại sư cũng là một cách tìm về gần bờ cõi Đại Việt mà thôi!



L o n g T u y ề n
cuối 1986 – đầu 1987



12540



Image


h i ế u .t ử .h ọ .N H Â M .
____________________________________________________________________________


Nhâm quân tên Ngọc Hựu, quán tại Bắc Hà, xứ Giao châu. Hậu duệ của Nhâm gia, nòi Việt, thuộc danh môn, vọng tộc.

Lúc trẻ nhẹ đường thi phú, học hành dở dang. Năm Ất Ngũ, gặp lúc đất nước bị phân chia, Nhâm quân theo gia đình thiên cư vào sống ở cõi Nam, vùng châu thổ hai sông Đồng Nai, Cửu Long. Thấy rõ dã tâm của rợ xích-hồ tiếp tục lăm le xâm lấn, Nhâm quân xếp hết bút nghiên, tạm biệt thê nhi nhập ngũ tùng chinh. Trên đường phục vụ quốc-gia, nghe đâu có thời từng đứng trong hàng thiên thần mũ đỏ, sau chuyển ngành, thôi lo việc trên trời mà chuyên lo việc dưới đất, lần hồi thăng tiến đẳng hàm, nhận cấp trung-tào, chuyên lo về binh nhu quân lương.

Đường đường là một hổ tướng, người cao một trượng, lưng lớn hơn vừng, da dẻ sậm đen, đúng mầu thiết diện vô tư, đi đứng chững chạc. Lúc cần lao khổ, vẫn luôn luôn gánh vác nặng nhọc hơn binh-sĩ, không nề hà. Lúc nhàn hạ, nhân cuộc trà dư tửu hậu, bàn luận thi thơ, thao thao bất tuyệt, hằng buổi không biết mệt. Tiếc một chút là giọng nói không vừa với dáng người, không vang rền như chuông đồng, mà lại thanh nhỏ vừa đủ nghe. Theo lời một nhà bốc phệ tiên tri, thì do cái phá tướng này, mà Nhâm tướng quân phải gánh chịu thăng trầm trên đường hoạn lộ. Thật ra, Nhâm tướng quân xem tài lợi công danh không nặng hơn chiếc giày rách.

Tướng quân rất sính rượu. Thường gặp gỡ thân bằng chén anh chén chú. Khi thì tựu họp ở nhà bạn quen trong thôn Hạnh-Thông-Tây, chủ nhà hào sảng bày cho 5 món cá chép: từ gỏi sống kèm lá mơ đinh lăng, cho đến rán vàng cả vi kỳ dòn rụm. Lúc thì hội nhau nơi quán lá của một quốc thủ về mộc tồn ở phía nam cầu Long Bình. Có lần, tướng quân đọc cho nghe bài Tây-Kỳ đức tụng khá dài, trong đó chỉ còn nhớ được một câu: ”... Kẹt ở kẻ răng một miếng, cả tháng sau xỉa ra hãy còn thơm...” Những lúc có bạn có rượu, tướng quân lấy làm thống khoái, cho rằng đời mình vẫn còn có chỗ mà vui. Rất phóng khoáng trong việc kết giao với thế nhân, không mảy mai chấp nê hình thức bề ngoài. Có khi cao hứng nhập cuộc đỏ đen, vui cơn sóc đĩa, tam cúc, tổ tôm thản nhiên ngồi cùng bàn thân thiện với thuộc hạ. Thế nhân mắt mờ không biết, buông lời khinh bạc. Thì tướng quân cười ran, chê Bình Nguyên Quân còn quá nặng nề tôn ti giai cấp, và nghiễm nhiên sánh mình với Tín Lăng Quân.

Bẩm tính trực ngôn, phải nói phải, quấy nói quấy. Có khi mắng như tát nước vào mặt những võ quan phẩm cao thế trọng mà không nể nang, không sợ hiềm thù. Bọn tiểu nhân có điều khuất tất trong lòng đều e dè, tránh không dám gặp tướng quân.

Tướng quân như thế, còn Nhâm phu nhân thì lại khác. Có thể nói rằng phu nhân là một phụ nữ Việt-Nam mẫu mực đức hạnh. Trong thời đại nữ nhân đua đòi đồng đẳng, bình quyền, lấn chen quá mức có khi giở trò xỏ chân lổ mũi, thì phu nhân chỉ một niềm tam tòng tứ đức lo chìu chồng nuôi con; cam giữ phận dâu hiền thảo thuận cúc cung tận tụy phụng sự Nhâm lão công công.

Năm Ất Mão, rợ xích hồ xua quân xâm lăng vào cưỡng chiếm cõi Nam-Hà. Vào giờ chót, tướng quân thoát chạy khỏi căn cứ Long Bình. Vì biết rõ dã tâm của giặc, tướng quân quyết tâm đào hiểm. Thân phụ bị đau hai nhân không đi được, tướng quân cõng bố chạy đến thương khẩu, tìm cách ra khơi. Sau cùng phải dấy hùng uy, tạm chiếm một chiếc tống-áp-thuyền, tướng quân cõng bố xuống, sắp xếp cho cụ ông có chỗ nghỉ ngơi, rồi lo kêu gọi bằng hữu đang táo tác trên bờ vì chưa tìm được phương sinh lộ; sau đó, tướng quân mới nhớ lại mà lo được cho vợ con xuống thuyền lánh nạn.

Dọc đường bôn tẩu, tướng quân đai bố trên lưng để di chuyển từ thuyền nhỏ lên thuyền to, từ tàu này sang tàu khác. Khi được lên phi cơ của cường minh, một tay tướng quân lo đổi thay sống áo, chăm sóc chén cơm bát nước hầu cha, một khắc không rời. Lại thấy cha ngồi buồn vì không đi lại được, bèn van vỉ bạn bè đến vây quanh cụ ông gầy một hội bài con, cho cha già khuây khỏa những giờ chờ đợi. Khi có người bảo trợ về thành Lăng-Cách xứ Kỳ-Hoa, vợ chồng con cái đùm túm lấy nhau trong cảnh tạm dung lây lất qua ngày.
Vì thổ nghi lạ, nhân văn khác, gặp mùa tuyết giá, đau ốm liên miên, lại thêm tai nạn xảy ra không ngớt, Nhâm tướng quân có ý muốn thiên cư về miền ôn đới, nơi có nhiều thân hữu cũ, nhưng vì Nhâm lão bệnh hoạn, di chuyển khó khăn, đành nấn ná hết hạ này sang hạ khác. Cho đến năm 80 tuổi, thì Nhâm lão quy tiên.

Nhâm tướng quân mời tất cả những vị lãnh đạo tôn giáo trong vùng: thiền sư, linh mục, mục sư để cầu nguyện cho hương linh Nhâm lão công công vì tướng quân cho rằng thân phụ mình không về nước Phật, tất cũng đến thiên đàng.
Sau đó, tướng quân nhắn tin bạn bè rằng: “Mồ tiên phụ ở đâu, thì quê hương của mình ở đó.” Dẹp bỏ hết mọi toan tính di chuyển, quyết ở lại thành Lăng-Cách để vài hôm một lần, tướng quân ghé lại nghĩa trang, chăm sóc viếng thăm mồ Nhâm lão.

Cách đây mấy năm, Nhâm tướng quân có ghé thăm, râu đen để dài quá ngực, đạo mạo hơn xưa, tiêu sái thoát tục. Tướng quân có cho hay: “ Đã nghe lời khuyên, bỏ hẵn món mộc tồn, quyết quy y Tam Bảo; lại lo góp nhiều công đức trong việc lập một ngôi chùa ở thành Lăng-Cách, cho đồng bào có nơi trang nghiêm chiêm bái Phật”.

Trong ngày họ Đoàn cưới vợ cho con, được nghe cố nhân Nguyễn Đăng Trọng, đang cư ngụ gần 300 dặm về phía Bắc, đã không tiếc lời nhiệt liệt tán dương và nức nở ngợi khen Nhâm tướng quân là hiếu tử, lại được vợ hiền.

*

Mới đây lại có người cho hay là tìm thấy xá lợi trong hủ tro của tướng quân. Vốn không hiểu nhiều về nhiệm mầu huyền diệu của Phật, nên không dám lạm bàn! Phải chăng đấy là kết tinh của niềm u uất không nguôi từ tâm tư một chiến sĩ Quốc-gia đã mãn phần... mà tro than còn lưu vong đất khách quê người!



L o n g T u y ề n
1987 - 1988



12592



Image


m ỹ .n h â n .h ọ .P H Ù N G .
____________________________________________________________________________

(chuyện bên lề lịch sử)



Hương-Cảng năm 1947...

Trong phòng tiếp tân đã có nhiều thực khách sang trọng ra vào tấp nập. Khách sạn này vẫn là nơi tụ hội hầu hết những người có địa vị tại nhượng địa dài hạn 99 năm. Khi chiều xuống, Hương-Cảng càng lộng lẫy hơn, thì tửu lầu này cũng nhộn nhịp hẵn lên để chuẩn bị vào đêm... bất tận, trong xa hoa với đầy đủ lạc thú trên đời, dù trước hay sau thế chiến II.

Sau khi người hầu bàn rót xong ly rượu khai vị, Nguyễn quân lặng lẽ ngắm bình hoa năm cành hồng thắm, dấu hiệu cho người đến dễ nhận. Bàn của Nguyễn quân chọn không xa lối ra vào, cạnh cửa sổ có màn nhung vàng thẩm. Thỉnh thoảng Nguyễn quân nâng ly rượu kề môi, lơ đảng nhìn ra cửa, dáng dấp ung dung nhàn tản. Thật ra, Nguyễn quân đang chờ đợi một người, hay đúng hơn Nguyễn quân theo thượng lệnh đến đây để xác nhận một tin tức, đồng thời cũng muốn biết về người đẹp như đã được thông báo.

Nguyễn quân lại nâng ly mà người vẫn chưa thấy đến. Nguyễn quân mỉm cười, nghĩ ngợi lan man...

Đang ở trong chiến khu từ mùa thu 1945, hoạt động với tướng Nguyễn Hòa Hiệp, Tư-lệnh Đệ Tam Sư-đoàn, Nguyễn quân nhận lịnh của anh em phái về thành công tác năm 1946. Mỗi tuần đều có phiên họp ở tư gia bác sĩ Huỳnh Kim Hữu (sau lưng dinh Gia Long). Thời bấy giờ có nhiều nhóm chủ trương khác nhau. Nhóm của bác sĩ Lê Văn Hoạch chủ trương Nam-Kỳ-Quốc và chấp nhận ở trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp. Hai nhóm khác cùng chủ trươngViệt-Nam phải thống nhứt độc lập, không chấp nhận Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, phía hai ông Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện thì chủ trương thương thuyết với Pháp để đạt được mục đích, còn phần bác sĩ Đỗ Dư Ánh lại chủ trương phải có lực lượng trong chiến khu, hầu đặt điều kiện buộc Pháp phải chấp nhận thương thuyết. Tuy sách lược khác nhau nhưng tựu trung hai nhóm này cùng lập trường năm không:
1. Không chấp nhận Liên Bang Đông Dương
2. Không chấp nhận gia nhập Liên Hiệp Pháp
3. Không vì chống Pháp mà theo cộng-sản
4. Không vì chống cộng-sản mà theo Pháp.
5. Không chấp nhận việc thành lập Nam-Kỳ-Quốc.

Cả hai nhóm này cùng triệt để chống cộng-sản và dứt khoát không chấp nhận Hiệp định Fontainebleau năm 1946 do Hồ Chí Minh ký kết với Marius Mouket, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại để Việt-Nam độc lập trong Liên bang Đông Đương và Liên Hiệp Pháp.

Nhân một trong những phiên họp này, sau khi tiếp phái đoàn miền Trung sắp sửa sang Hồng Kông tiếp xúc với cựu hoàng Bảo-Đại, bác sĩ Lê Văn Hoạch ký thông hành cho Nguyễn quân sang Trung-Quốc. Trong chuyến đi này, Nguyễn quân tìm cách liên lạc với tướng “Quảng Tây” Trương Phát Khuê mong vận động tiếp trợ một số vũ khí hầu mang về cho anh em trong chiến khu. Việc vận động gặp khó khăn, Nguyễn quân về Hương-Cảng tháp tùng vào thành phần lưu vong với cựu hoàng.

Cựu hoàng từng tuyên bố: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ” rồi thoái vị trao quyền cho chế độ mới hồi 1945. Sau đó, hoàn cảnh đất nước biến chuyển, cựu hoàng và cung quyến phải lưu vong ở Hương-Cảng hơn hai năm. Tiền của cạn dần, Nam Phương hoàng hậu phải lần hồi cho bán tư trang tư kim để giữ thể diện và cung cách của cựu hoàng, thực ra chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Nhưng dù phải chịu mông trần, cựu hoàng cũng không chịu nằm yên. Nhân cách đó mấy hôm, sau khi đọc phần kiểm báo, thấy tờ South China Morning Post loan tin cộng-sản Việt-Nam cho hai phụ nữ sang Hồng Kông để ám sát cựu hoàng, một cô là Phùng Thị D...; đích thân cựu hoàng gọi Nguyễn quân đến trao chi phí tiếp tân và giao công tác... đi gặp mỹ nhân họ Phùng.

Nguyễn quân vừa ngẫm nghĩ vừa mỉm cười: “Thì cứ cầm như đi lãnh dùm lựu đạn, nhưng cũng nên chờ gặp đối thủ xem sao?” Rồi lại tiếp tục thi hành công tác đã giao phó, đưa mắt nhìn ra cửa vì đã đến giờ ước hẹn. Ngay lúc đó, mỹ nhân xuất hiện... thật lộng lẫy, thật kiêu sa, thật sang trọng và quả nhiên nàng... rất đẹp.

Mỹ nhân dừng lại một giây khi qua cửa, rồi khoan thai đi thẳng đến bàn Nguyễn quân đang ngồi. Nguyễn quân đứng lên chào đón kéo ghế mời mỹ nhân. Tuy không có vị thế đường bệ của cựu hoàng, Nguyễn quân vốn rất điển trai, lại có thừa phong nhã để vừa mắt người đẹp. Lúc ban sơ, trong ánh mắt mỹ nhân còn có tia như ngờ vực như thăm hỏi, vì dù đang lưu vong Nguyễn quân vẫn không dấu hết được tướng mạo của một chiến sĩ hào hoa đang hồi luân lạc chưa gặp thời. Và bữa ăn tối kéo dài trong bầu không khí thân mật, ấm cúng. Vì Nguyễn quân khéo léo đưa câu chuyện vào đường mạn đàm vô thưởng phạt. Mỹ nhân tuy không gặp được cựu hoàng, nhưng vẫn giữ thái độ lịch sự với vị “sứ thần... lâm thời”. Càng về khuya, thái độ của mỹ nhân như không còn thiết tha lắm đối với việc gặp hay không gặp cựu hoàng!

Rồi khi ban nhạc bắt đầu tấu những tình khúc du dương, Nguyễn quân đứng lên, đưa tay mời mỹ nhân. Từ những bước dìu dặt nhẹ nhàng phiêu phưởng, đến cách nâng dắc vấn vương, vừa dứt điệu hứa hẹn này thì sang nhịp thôi thúc khác, hai người không còn nhớ hiện tại, tay trong tay như không nỡ rời nhau... Đêm Hương-Cảng càng khuya càng tình tứ, quanh khách sạn có hằng trăm lối, không rõ mỹ nhân có biết đường nào lên Thiên Thai và mời mọc, khiến Nguyễn quân đã quên mất nẻo về...

Sáng hôm sau, khi Nguyễn quân vừa vào cửa, thì Lưu Đức T. hỏi ngay: “Hôm qua, nhà ngươi đi đâu? Mà bây giờ mới về... và cũng chưa báo cáo công tác”. Nguyễn quân ung dung cười mỉm, thong thả đáp rằng: “Thượng cấp chỉ định tôi đi lãnh dùm lựu đạn, thì tôi đi... lãnh lựu đạn chớ đi đâu?” T. lắc đầu không hỏi nữa.

Năm sau, thực dân thấy tình hình cần có cựu hoàng về chấp chánh, để Pháp có chiêu bài cho đế quốc trắng chống đế quốc đỏ, hầu tiếp tục ở lại Việt-Nam. Vì vậy, sau nhiều lần thương lượng về các điều kiện giữa hai bên Pháp–Việt, cựu hoàng chuẩn bị hồi loan. Phái đoàn tòng vong cũng sắp xếp về nước. Thành phần kháng Pháp như chí sĩ Ngô Đình Diệm, bác sĩ Đỗ Dư Ánh, bác sĩ Nguyễn Anh Tài, v.v... không dám đáp Air France vì sợ máy bay bị nổ vô cớ như chuyến chở tướng de Hautecloque (Leclerc), hay phế đế Duy Tân. Mà phái đoàn cũng không có tiền để thuê một phi cơ riêng cho đủ an toàn. Bấy giờ, nhờ vận động riêng của Võ Văn Hải (và của mỹ nhân ?), Hải quân Hoàng-gia Anh tại Hồng-kông cấp một thủy phi thuyền (hydravion) quân sự chở thành phần này về nước.

Trong chuyến bay hồi hương này, chỉ có năm người: chí sĩ Ngô Đình Diệm, bác sĩ Đỗ Dư Ánh, bác sĩ Nguyễn Anh Tài, mỹ nhân và Nguyễn quân. Trớ trêu là mỹ nhân lại ngồi cạnh Nguyễn quân, đối diện với Ngô chí sĩ. Rồi khi phi cơ yên lành lướt gió trên không trung, mỹ nhân ngang nhiên tựa đầu vào vai Nguyễn quân mà... lim dim mắt thả hồn vào mộng. Sự kiện “gởi gấm một cách trìu mến” này, tất nhiên lọt vào đôi mắt thánh thiện của Ngô chí sĩ là một bực tu hành sùng đạo... khác hẵn Nguyễn quân.

Sau đó Ngô chí sĩ rời quê hương sang Hoa-Kỳ. Đến năm 1954, thì tình hình chánh trị miền Nam Việt-Nam biến đổi, Ngô chí sĩ được đa số quốc dân ngưỡng mộ, nên cựu hoàng triệu về giao quyền chấp chánh. Bấy giờ, đang là Trưởng Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, Nguyễn quân được công tác lịnh của trung tướng Nguyễn Văn Hinh, đại diện quân đội sang Paris đón Ngô chí sĩ về nước. Trên đường hồi hương, trong câu chuyện, nhân duyệt lại nhân sự cùng tòng vong theo cựu hoàng năm trước, Ngô chí sĩ đã hỏi Võ Lăng: “Rứa hắn có còn cho mụ nớ tựa vai ngủ gật như hồi 1947?”

Ngày tháng qua mau, 53 năm qua rồi, bây giờ mái tóc đen nhánh của Nguyễn quân năm xưa đã bạc phơ, trán có nhăn nhưng nụ cười đôn hậu vẫn tươi, dáng điệu vẫn khoan thai ung dung nhàn nhã; và nhất là tấm lòng son sắt đối với đất nước vẫn nguyên vẹn. Thỉnh thoảng, Nguyễn quân lại nhìn xuống bàn tay thiếu mất một ngón, dấu vết hiển nhiên của một lần bị cộng-sản ám sát hụt năm xưa. Bây giờ, dù tuổi hạc đã cao và lòng không còn thù hận một cách cực đoan, Nguyễn quân vẫn mong được thấy đất nước sớm thoát khỏi vòng cương toả khắc nghiệt của chế độ lạc hậu và chuyên chính Hà-Nội.



L o n g T u y ề n
sơ thảo ngày 06 tháng 12 năm 1999
bá phụ Nguyễn Phước Đàng duyệt chỉnh 11/11/2000



12622 top -
ĐẾM BƯỚC LƯU VONG
1, 2, 3
_______________________________________________
Cánh Chữ Tàn - thơ - Hoa Trang _______________________________________________

Image

Niệm câu thơm thảo,
giã từ
Nhang lòng ngát nỗi thiêng tư,mùng 10
Đèn chiều giọt sáng lơi rơi...
Nghiêng vào ánh vãn ngay nơi hết ngày
Những đóm kinh tim tàn bay...

xem tiếp...

_______________________________________________
Gió & Thông - văn - Đình Nguyên _______________________________________________

Image

Vậy mà nỡ lòng nào em lại héo khô! Màu xanh kia trở thành úa héo. Nhúm tóc kim một chùm mấy sợi. Bay lang thang dính đầy kẽ, kẹt, sân vườn, mái nhà, ống dẫn nước thoát mưa.

xem tiếp...

_______________________________________________
Ngày Vui Qua Mau - nhạc - Thúc Sinh _______________________________________________

Image

đừng nhìn xa vời em ơi
xin em hãy mơ thật gần
xin em hãy coi ngày vui là đây...

xem tiếp...

_______________________________________________
Lối Mòn - ảnh - Mùa Cổ Điển _______________________________________________

Image



xem tiếp...