THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP









v ă n
____________________________________________________________________________
y là nghề, văn thơ nhạc là nghiệp . v ũ t h ư n g u y ê n


20446




Image

B À I .T O Á N

________________________________________________________________________
v ũ t h ư n g u y ê n


Văn đẩy tấm cửa kiếng, lách mình ra ngoài lan can. Buổi sáng tịch mịch, không nắng, trời u ám. Căn phòng của anh nằm ở lầu ba của một chung cư dành cho người lớn, xoay lưng ra một khu rừng thưa, chạy dọc theo xa lộ vùng Bethesda.

Từ nơi đang đứng, anh có thể nhìn thấy, khuất sau đám rừng thưa ấy, từng đoàn xe nối đuôi nhau trên xa lộ, như một đoàn viễn chinh trên đường ra trận mỗi sáng. Hôm nay dậy trễ, xa lộ đã thưa thớt xe cộ, anh tần ngần đứng nhìn xuống khoảng cỏ úa dưới sân ngập đầy lá vàng. Một cơn gió sớm bỡn cợt thổi đùa những chiếc lá úa,vàng, xanh đỏ, xoáy tròn quanh những gốc cây redwood cao sừng sững, giang những cánh tay khẳng khiu như cố đón bắt lấy những chiếc lá đã lìa cành. Một vài cành cây đong đưa uốn éo như muốn nhặt lấy những chiếc lá khô đó để kết lại lên thân hình khô héo của mình, để trở lại mùa hè rực rỡ, như một người già vân vê những sợi tóc úa, nuối tiếc một thời son trẻ. Nhưng không, mùa hè đã qua, mùa đông sắp đến, còn mùa xuân thì xa mù dịu vợi. Anh mê mải nhìn những chiếc lá vàng nô đùa duỗi nhau khỏi thảm cỏ khô, chạy xuống mặt đường rồi mất dấu dưới chân đồi, cho đến khi những giọt mưa phùn lất phất hắt nhẹ vào mặt. Trời chuyển mưa sang mùa. Văn ngửa mặt nhìn lên bầu trời xám xịt, hứng lấy những giọt nước mưa lấm tấm, nghiêng nghiêng, bám nhẹ lên má, lên tóc, như vỗ về, như thấm mềm những khô cằn trong anh.

Chậm chạp quay vào phòng, Văn nhìn căn phòng ngổn ngang, bừa bãi những sách vở, quần áo, dĩa chén dơ dáy chồng chất, tự thấy mình muốn làm biếng. Muốn bừa bãi, cẩu thả như thời còn sinh viên. Có mấy khi mình được làm học trò lại một lần nữa nhỉ. Những tháng đầu khi mới dọn đến đây, anh cảm thấy thừa thãi, bứt rứt vì những ngày cuối tuần trống rỗng. Bây giờ Văn lại thấy quý cái lê thê, chậm chạp đó. Quý những khoảng thời gian trống rỗng ấy, để được ngồi ì bên khung cửa sổ nhìn mùa thu đi qua. Để tưởng tượng. Để mơ mộng vẩn vơ. Để nhớ nhung lẩn thẩn. Rùng mình, Văn nghĩ đến những ngày quay cuồng trong con lốc của đời sống. Cuộc sống đầy hỉ, nộ ái, ố, tham, sân, si. Sợ người ta dành bên nầy, lấn bên kia, đâm sau lưng, chém đằng trước. Tại sao không? Lấn được thì người ta cứ lấn, chèn được thì cứ chèn, dại gì không làm, đâm chém, chèn ép nhau để mà sống chứ! Ôi, những năm tháng lăn lộn đã biến Văn thành một tên nô lệ giác đấu, đầy vết sẹo của bon chen theo thời gian. Đời sống đã cuốn hút anh vào một dòng thác cheo leo. Nó nhồi anh vất vưởng, lên xuống gập ghềnh. Bây giờ đến khúc sông êm đềm, Văn buông mái chèo, từ từ tận hưởng sự bình yên, như lúc bé thích để dành đồ ăn ngon tận đáy chén cơm, sợ ăn liền sẽ mất. Anh muốn ôm ấp, tận hưởng cái hạnh phúc hiện có, vì Văn hiểu, một khi hạnh phúc đã qua, sẽ không quay trở lại. Hạnh phúc dường như chỉ là một làn khói mong manh, không bao giờ thật. Hạnh phúc bao giờ cũng chỉ là ước mơ, mà có mấy khi ước mơ lại trở thành sự thật?
Văn đun nước nấu cà phê, không dùng lò microwave như mọi khi. Anh muốn ngồi chờ nghe tiếng nước reo, cười thầm khi nghĩ đến mẹ của anh, vẫn nói mỗi khi pha cà phê cho Văn, rằng cà phê nấu bằng nước đun lò uống ngon hơn là nấu bằng microwave oven! Cái ngon ở đây có lẽ do sự chờ đợi, khao khát, ly cà phê đắm thêm hương vị, ngược lại khi con người ta có đủ mọi thứ dễ dàng, tất cả sẽ trở thành lạt lẽo, vô vị. Có rất nhiều thứ, đối với Văn là một trời ước mơ của tuổi nhỏ, giờ đây trên xứ người, đã trở thành nhạt nhẽo. Cái có đến với con người ta quá dễ dàng thì người ta không thấy quý cái không.

Nhấm nháp ly cà phê nóng, Văn ngồi xuống bàn học, bâng quơ nhìn những hạt nước mưa lăn tròn trên khung cửa kính. Anh không vội đi làm bữa nay, nhất là những khi mưa lất phất như thế nầy. Kệ tía chúng nó. Bom nguyên tử nổ nó cũng chưa chết nữa là nhịn đói vài giờ. Chúng nó, là những tế bào ung thư mà Văn cấy trong những ống thí nghiệm để dùng vào việc tìm thuốc chửa trị ung thư. Những tế bào đó sinh sản rất man rợ. Chỉ cần một chút máu bò là chúng có thể sinh sôi nẩy nở. Một thành hai, thành bốn, thành tám trong vòng vài ngày, cho tới khi chật ống nghiệm và hết đồ ăn mới thôi. Có lần Văn thầm nghỉ nếu mình cho chúng ăn nước mắm xem chúng có chịu nổi không nhỉ. Chổ Văn làm, Viện Ung Thư Quốc Gia, là một trung tâm nghiên cứu và chửa trị ung thư nổi tiếng nhất thế giới, nằm trong một khu khá khang trang của tiểu bang Maryland. Hàng ngàn khoa học gia từ khắp nơi trên thế giới đổ về đây làm thí nghiệm. Hàng triệu bệnh nhân đủ mọi chủng tộc đã đến đây mong được chữa trị bằng những phương pháp mới lạ còn trong vòng thí nghiệm. Giờ ăn trưa tíu tít những ngôn ngữ khác nhau làm át cả tiếng chim trong khoảng công viên rợp nắng sau bệnh viện. Phòng thí nghiệm chỗ Văn làm thì nhỏ, mà người làm nghiên cứu thì đông. Vì thế anh phải chia phiên với những người khác. Văn chịu vào trễ, làm trễ, và về trễ.

Khi ly cà phê đã uống cạn thì trời hãy còn mưa rỉ rã. Văn quyết định đi vào thăm các tế bào ung thư của mình. Anh vẫn thích đi lang thang dưới mưa. Cái thú đơn giản gợi nhớ quãng đời thơ ấu, ở truồng chạy rông tắm mưa. Mặc kệ.Văn kéo cao cổ áo ngoài rồi bước thẳng lên đồi. Con đường từ nhà đến chỗ làm non hai cây số, mưa hay nắng, Văn vẫn thích đi bộ xuyên qua cánh rừng thưa hằng ngày, để lòng mình lắng đọng, không âu lo, không vướng bận. Văn thích con đường nầy từ mùa hè vừa qua, khi rừng còn ngập lá, với tiếng ve sầu rộn rã. Với tiếng chim líu lo. Với những chú sóc nhút nhát chạy tung tăng trên cỏ rồi vọt lẹ lên những thân cây cổ thụ mỗi khi Văn đến gần. Có một chú mạnh bạo chạy theo Văn mỗi ngày để được ăn những mẩu bánh mì khô mà Văn để dành mang theo cho chú. Dần quen, chú nhảy phóc vào lòng của Văn với đôi mắt lim dim để Văn được vuốt ve, thủ thỉ. Văn nhận ra chú sóc ấy mỗi ngày rất dễ dàng vì lông chú màu trắng xám. Một con sóc bạch tạng. Anh cũng đã quen với những người đi bộ, chạy bộ để tập thể thao hai buổi sáng chiều. Lúc nào gặp anh họ cũng nhã nhặn gật đầu chào xã giao. Văn cười một mình khi nghĩ đến bà mập, bà ốm. Đó là bà Ann và bà Cathy. Ann tướng người cao dong dỏng, hơi ốm, ít nói, nhưng nét mặt rất hiền và quý phái. Còn Cathy lại mập và lùn, mặt mày chất phát, rất bặt thiệp. Hai bà cao, lùn nầy, Văn đặt tên cho hai bà ngay từ hôm gặp lần đầu, vào khoảng sáu mươi, có lẽ là bạn thân của nhau, ngày ngày, sáng cũng như chiều dắt chó đi dạo. Lần mới gặp, con chó nhỏ chạy lăng quăng tìm chỗ phóng uế, thấy Văn đi qua, nó quấn quýt theo chân anh. Vừa khi đó hai bà thong dong đi bộ lên từ phía bên kia đồi. Sợ chó muốn cắn khác lạ, Cathy xuýt xoa xin lỗi. Hôm nay trời mưa, anh hơi buồn vì không thấy sóc, không thấy chó, không thấy hai bà mập ốm Ann và Cathy.

Văn bước đều trên đám lá vàng dày cộm. Cơn mưa nhỏ chỉ đủ sức làm thấm ướt lớp lá khô trên mặt. Lớp bên dưới vẫn còn khô, rộp rộp theo từng bước chân của anh. Những bước chân đưa anh về những năm tháng ấu thơ không mấy thơ mộng ở làng quê Non Nước. Những đêm nằm nơm nớp sợ, nghe tiếng chân người dẫm lên lá bàng khô xào xạc sau nhà. Tiếng chân của du kích về làng. Tiếng chó sủa. Tiếng súng đì đoàng lẻ tẻ. Để sáng hôm sau thấy cờ sao xanh đỏ tung bay giữa chợ, trên vài xác người đẫm máu tươi lây lất dưới chân cột cờ. Rồi thì lính Mỹ lên làng, bắt dân chúng sắp hàng ngoài giếng nước ngoài đầu đình. Họ đánh đập những người đàn ông bị tình nghi là Việt Cộng. Thảm kịch cứ lập đi lập lại như một đoạn phim kinh dị mà Văn đã coi nhiều lần đến độ nhàm chán cái đoạn kết. Làng của Văn thì nhỏ, nhỏ đến nỗi mọi người dường như là bà con của nhau. Chỉ ban ngày thôi. Khi đêm về, kẻ quốc gia, người cộng sản, giết nhau như một bầy con nít chơi trò đánh giặc. Người dân vô tội bị nghi can cộng tác với bên này, hay bên kia cũng bị giết lây. Đi lang thang sau giờ giới nghiêm cũng có thể mất mạng vì bị bắn lầm bởi bên này, hay bên kia. Làng xóm ngày càng thưa dần, hình như chỉ còn người già và con nít. Đám con nít cũng đổi thay, những mái tóc vàng ngày càng nhiều thêm. Vì lẽ con gái không đi bán bar cho Mỹ, thì theo du kích, chỉ một trong hai con đường lựa chọn, có khi là cả hai. Người lớn thù ghét nhau. Con nít cũng học thù ghét nhau, để tranh sống. Tuổi thơ của Văn dường như quá ngắn ngủi, không đủ cho Văn. Anh lớn quá nhanh theo chiến tranh. Mười tuổi, Văn đã luôn miệng chửi thề tối ngày, đã biết mài một con dao nhọn, nguỵ trang trong cây viết máy, thủ sẵn trong túi quần sọt. Có lần, không nhớ rõ lý do, Văn đánh lộn với một tên nhóc cùng trường, tiểu học cộng đồng An Hải, suýt, lụi nó một dao. May, có đám bạn can kịp. Mười tuổi, Văn đã dẫn gái cho lính Mỹ ở ngã Ba cầu Đà Lách, để được vài chục xu, hay có khi, hên, một đồng đô la đỏ chói có in hình ông mọi da đỏ mặt như người say rượu. Mười một tuổi, bập bẹ hút cần sa. Mười hai tuổi, phi xì ke. Rồi mười ba tuổi…

Khi Văn gần đến khu bệnh viện thì trời chuyển mưa nặng hạt. Không mang dù, anh chạy vội vào trạm xe buýt ven đường để đụt mưa. Nép bên vách tường bằng mica chắn gió, một người đàn ông Á Đông, dáng gầy, xương xẩu, đang co ro vì gió lạnh. Cái dáng mảnh khảnh ấy run lên từng hồi theo cơn gió lộng thổi từ ngoài vào. Bàn tay gầy guộc bám lấy bờ tường trạm xe buýt như sợ gió cuốn bay đi mất. Đôi vai hơi gù trồi lên thụt xuống theo cơn ho sù sụ từ cái lồng phổi lép kẹp. Thấy Văn vào, người đàn ông, gượng gạo cười chào sau một cơn ho húng hắng. Cả hai im lặng cùng đưa mắt nhìn những giọt mưa trĩu nặng trên mái. Thịnh thoảng một cơn gió lùa, tạt từng chuỗi nước mưa vào bên trong. Hạt nước mưa rớt xuống mặt nền, vỡ toang như những bong bóng thuỷ tinh tan ra ngàn mảnh. Người khách lạ lại húng hắng ho. Văn nhìn ông, ái ngại. Ông nhìn Văn, rồi rút trong túi ra một gói thuốc, lịch sự mời. Văn nhè nhẹ lắc đầu. Bây giờ anh mới nhìn rõ nét mặt của người lạ. Một người xấp xỉ lục tuần, khá đẹp trai với cái cằm vuông và làn da sạm nắng thành màu nâu đậm làm cho khuôn mặt chất chồng nét khắc khổ. Tóc của ông đã hói, lưa thưa như những sợi râu mép trên vành môi mỏng ẩn hiện nụ cười thân thiện. So với vành môi như muốn cười ấy, đôi mắt ông đục ngầu, buồn bã. Viền mí mắt dưới đã nhăn nheo, hơi nhíu lại.

Người đàn ông lặng lẽ rít một hơi thuốc, ém khói, nhìn xa xăm ra ngoài trời mưa. Ông có lối cầm thuốc lá kiểu một người nông dân hút thuốc vấn Cẩm Lệ, với hai ngón tay trỏ và tay cái nắm lấy đầu lọc, tàn lửa xoay về phía lòng bàn tay. điếu thuốc ngậm hơi trề xuống môi dưới. Ông khách gợi chuyện, giọng Mỹ rời rạc:

– Anh chờ xe buýt? Chuyến xe 31 dừng chỗ nầy phải không?
Cái âm hưởng khá quen thuộc, đầy dấu nhấn của một người Việt Nam mới đến. Văn trả lời ngập ngừng bằng tiếng Việt. Không hẳn là câu trả lời mà là một câu hỏi:

– Thầy…Thưa thầy …Phò?
– Tôi là Phò đây, xin lỗi anh là ai mà biết tên tôi?
Ngạc nhiên, thầy Phò quay lại. Tròng mắt ông giựt nhanh hơn trước. Vành mi dưới nhăn nheo thêm, cặp lông mày nhướng cao hơn làm đôi mắt như tròn hẳn lại. Điếu thuốc trên môi trề hẳn xuống như gần rớt khỏi cái miệng nhỏ nhỏ nhắn. Đôi vai gù chùn xuống thêm chút đỉnh.

– Con là Văn đây thầy. Thầy dạy con ở trường La San đó thầy.
Văn nhắc tên trường cho thầy nhớ, vì ngày xưa thầy dạy nhiều trường, bán cháo phổi kiếm cơn, như thầy thương nói.

-Văn? Trần Hưng Văn? Lớp bảy phải không?
– Phải thầy.
Văn. Trần Hưng Văn. Lớp bảy. Năm mười ba tuổi, gia đình Văn chạy giặc mùa hè đỏ lửa, từ Đà Nẳng vào Sài Gòn. Năm mười ba tuổi…Ba mẹ biết con mình du côn, nên đã bỏ Văn vào trường dòng La San cho các sư huynh trị. Ôi năm mười ba tuổi, Văn thù mấy ông phe quá. Nhất là frère giám thị Léon, rồi frère giám học Bienvenu. Có lần đi học để tóc dài, Frère Léon dùng tông đơ cạo sạch đầu. Lần khác mặc quần ống voi, Frère Bienvenu cắt cụt ống quần, đuổi ra khỏi trường. Mấy frère cũng chán ngán Văn không ít, cái tên Trần Hưng Văn được đổi thành Trần Hung Hăn mới sau hai tháng học.Văn thù đi học, thích chuồn ra ngoài ăn phở Hiền Vương, ngồi hút thuốc, rồi vù qua Đa Kao coi phim Lý Tiểu Long.

– Anh làm gì ở đây?
– Con qua đây làm nghiên cứu về bịnh ung thư thầy ạ.
– À ra thế. Thầy mừng cho anh. Thầy biết là Văn làm được.
– Còn thầy?
– Thầy mới qua diện H.Ọ Khi giải phóng vào thầy đi cải tạo vì là giáo sư biệt phái…Hai mươi mấy năm rồi…Văn lớn quá thầy nhìn không ra nữa.

Anh cũng muốn nói là, thầy thay đổi quá nhiều. Nhiều đến nỗi Văn không còn nhận ra thầy nữa. Nhưng sợ thầy buồn. Ngày ấy, thầy rất bảnh trai. Da dẻ trắng trẻo thư sinh. Mái tóc không hói, đen lánh, chải mượt. Văn thường nghịch ngợm đùa, con ruồi trợt patin gãy cẳng. Cũng vành môi mỏng lúc nào cũng muốn cười ấy. Đôi mắt ấy ngày xưa trong sáng, tinh nghịch hơn bây giờ nhiều. Thầy hay diễu cợt, làm nghề bán cháo phổi không khá, vì phổi thầy là phổi Phò, không phải là phổi Fe. Fe là ký hiệu hoá học của chất sắt, ý thầy muốn nói phổi thầy không phải là phổi sắt. Có đứa nghịch nhái lại, phổi bò chứ không phải phổi frère. Thầy dạy toán Đại Số năm lớp bảy. Văn còn nhớ, một hôm phát bài kiểm, thầy nói trước lớp là thầy rất ngạc nhiên về một tài năng mới. TròVăn. Trần Hưng Văn. Văn du đãng. Văn văng tục. Văn được 17 trên 20. Thầy khen Văn giỏi và bảo Văn lên bảng giảng lại bài toán cho cả lớp. Bàng hoàng Văn sợ không dám nắm lấy cục phấn trắng thầy chìa cho Văn, cũng như lúc thầy mời Văn điếu thuốc lúc nãy.

– Thầy biết là Văn làm được. Thầy gật nhẹ đầu, khuyến khích.

Nhìn nụ cười thân thiện trên đuôi mắt, khoé môi của thầy,Văn run muốn khóc. Cũng may, thầy chỉ muốn Văn chép lại bài toán cho thầy giảng mà thôi. Trong khoảnh khắc,Văn trở thành một người hùng. Từ hôm đó đời học sinh của Văn như qua một cuộc đổi đời.Văn hối hận. Văn ăn năn. Văn không còn là Văn du đãng. Văn đứng hạng ba năm lớp bảy do chính sức mình. Hạng nhất toàn trường năm lớp tám. Năm lớp chín…

Khi cái áo dòng đen của frère Bienvenu vừa khuất cuối hành lang, sau khi sư huynh phát xong học bạ cuối năm, Văn nghe lòng mình hụt hẫng. Thầy Phò tiến lại chỗ Văn ngồi. Thầy là giáo sư hướng dẫn của Văn năm lớp chín. Đặt cái thước kẻ lên đầu Văn, thầy khỏ nhẹ:

– Cái đầu to năm nay đứng hạng nhì rồi…Thầy biết là Văn làm được mà. Tại sao thế?

Thầy biết là Văn làm được mà. Tại sao thế. Mắt Văn cay cay, đỏ hoe. Nước mắt như chạy tròn trong bờ mi, rồi trào ra khoé mắt. Văn khóc. Khóc giận mình. Tại sao chỉ hạng nhì nhỉ. Tại sao chỉ 16,54 nhỉ. Thằng Bá ngồi nhìn Văn có vẻ hả hê. Nó được 16,60. Cái thằng khốn nạn. Nó cười. Văn khóc.

Văn thấy tròng mắt mình cay cay.
– Văn cho thầy xin số điện thoại đi..
Mưa đã tạnh. Tiếng thắng xe của chiếc xe buýt rít lên cót két. Hai cánh cửa xe xập xoè đón mời khách. Văn vội vã dúi vào tay thầy mảnh giấy nhỏ ghi số điện thoại của mình. Thầy lên xe. anh vói theo:

– Thầy…Bài toán năm lớp bảy…
– Thầy biết…Thầy biết là Văn làm được…

Thầy biết là Văn làm được. Anh không biết là thầy biết những gì. Có một điều canh cánh trong lòng anh suốt hai mươi mấy năm về bài toán đầu tiên thầy cho Văn 17 điểm. Văn chỉ mong được thú tội với thầy là anh chỉ cọp dê thằng Bá. Là Trần Hung Hăn đã chận đường Bá, doạ hắn phải cho Văn cọp dê hôm làm bài kiểm năm lớp bảy.

Chiếc xe buýt chạy qua. Sau khung cửa sổ nhỏ đục ngầu, mờ mờ đôi vai gù của thầy Phò run lên, thụp xuống.

Hôm ấy là một ngày đẹp trời cuối thu. Gió đông đã về mơn man lành lạnh. Trời cao và trong. Nắng vàng hoe. Trên con đường quen thuộc đến chỗ làm, trừ những cây thông già sừng sững, đám cây sồi đều trụi lá. Từ phía bên kia đồi, loáng thoáng bóng bà Ann dòng dõng. Vẫn con chó lăng quăng vô tư lự, tìm chỗ phóng uế. Không thấy bà Cathy lùn, Vặn hỏi:

– Bà Cathy đâu?
– Bà ấy mất hai tuần rồi.
– Tại sao? Văn thảng thốt.
– Bà ấy bị ung thư nhũ hoa cậu không biết sao?
Thật tình không biết, Văn lắp bắp chia buồn. Bà Ann lịch sự chào Văn rồi tiếp tục rảo bước. Con chó vẫn lăng quăng, vô tư lự. Anh nghĩ đến con sóc bạch tạng. Không thấy nó. Không biết nó có khờ khạo băng qua đường bị xe cán chết hay chăng. Một chiếc lá vàng theo cơn gió nhẹ, quấn quýt xoay tròn trên không rồi rơi thẳng vào bàn tay của Văn. Vuốt nhẹ chiếc lá trong tay, anh ngước nhìn lên cành. Chiếc lá vàng cuối cùng. Trời xanh vẫn xanh. Gió lạnh vẫn mơn man lành lạnh. Nắng vàng vẫn vàng tươi.

Văn lụi cụi đếm những tế bào ung thư trước khi cho vào dĩa thử nghiệm thuốc. Những tế bào li ti như những con vi trùng nổi lềnh bềnh dưới kính hiển vi. Một ngàn. Hai ngàn. Một triệu. Chuông điện thoại reo. Anh buông ống nghiệm xuống bàn, nhất ống nói:

– Eh, Van. Mày có muốn chút thịt tươi không?
Giọng Travis hăm hở qua điện thoại. Travis là bác sĩ điều trị ung thư, chuyên về lâm sàng, vẫn thường gởi fresh meat, thịt tươi, những mẫu tế bào lấy ra từ các người bệnh, để Văn làm thí nghiệm. Hắn lải nhải kể công, như nhắc cho Văn nhớ là phải kê tên hắn trong những biên khảo của anh.
– Người quá cố để lại di ngôn là cho mà người nhà thì không chịu. Khó lắm tao mới xin gia đình bệnh nhân được cái post. (*)

Post, post-mortem autopsy. Giảo nghiệm tử thi sau khi bệnh nhân đã qua đời để hy vọng tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết.
– Okay. Fedex lên cho tao.

Gửi cấp tốc lên. Thật ra từ chỗ Travis đến Văn chỉ cách nhau một khoảng sân cỏ rộng. Buổi chiều, miếng thịt tươi ướp đá được chuyển đến. Miếng thịt phổi đã bầm tím, với những ống khí quản li ti xám xịt, chơ hơ trên nước đá xay, trắng phau, như một tên lính bại trận phơi mình trên chiến trường phủ đày tuyết trắng, sau một trận đánh khốc liệt với tử thần ung thư.Chợt nhớ đến miếng phổi bò lều bều trong tô cháo lòng hôm cuối tuần, Văn hơi lợm trong cuống họng.Cầm hồ sơ bệnh lý, Văn lướt qua tên người quá cố.

Patient’s Name: Tran, Pho D.

Văn nhìn miếng thịt phổi. Không còn chất sống. Bãt động. Anh nghĩ đến Cathy. Đến con sóc. Đến con người ta. Con người ta sanh ra, con người ta giành giật, con người ta đâm chém nhau, con người ta hơn thua từng tí, con người ta giở trò hỉ nộ, ái, ố, tham, sân si, để rồi con người ta… ai cũng chết. Cái chết, một bài toán. Bài toán cuối cùng mà thầy để lại cho anh. Một bài toán mà cả thầy lẫn Văn, hay bất cứ một ai, vẫn chưa có thể tìm ra câu trả lời. Và, một bài toán mà không ai có thể gian lận nổi.

Ngoài kia đám cây khô vẫn trút lá vàng xuống sân cỏ úa. Trời xanh vẫn xanh. Nắng vàng vẫn vàng tươi. Như mọi ngày.
Image


20453

HY chào anh VTN - HY nghe/thấy/đọc tên anh VTN lâu lắm rồi nhưng hôm nay mới được cùng anh sinh hoạt trong cùng một diễn đàn. Lại là một mái nhà thật bé nhỏ thân yêu. Cám ơn anh VTN đã đem những cái "nghiệp" của anh VTN về đây cho HY học hỏi :-)


20457

Cám ơn nhiều HoaiYen nhé. Lâu rồi, 10 năm hơn không sinh hoạt văn nghệ


20459




Image

t h ì .t h ầ m
M Ù A .Đ Ô N G

(Ngụ Ngôn Mùa Đông)
________________________________________________________________________
v ũ t h ư n g u y ê n


Tôi buông quyển sách đang đọc xuống bàn khi cặp cửa chính dẫn vào phòng sập xòe rung động. Sau khe cửa hé hé mở, cái lưng còng quen thuộc của ông già Carlos từ từ xuất hiện, như một người nghệ sĩ e dè thậm thò bước lên sân khấu. Người đàn ông đã lùn, khom lưng kéo một vật nặng từ sau đôi cánh cửa, làm ông già có vẻ lùn hơn chút đỉnh. Tội nghiệp. Tôi bước vội đến giữ cánh cửa cho người lao công bệnh viện.

– Gracias, doctor.

Carlos ngẩng đầu, hàm răng xiêu vẹo và nụ cười khờ khệch, miệng hả to với hơi rượu nồng nặc. Qua những nếp nhăn kẻ thành rãnh sâu trên vần trán thấp với làn da dày đỏ đậm như nương rẫy của vùng cao nguyên đất đỏ, tôi thoang thoảng thấy nét những người thổ dân Mễ gốc da đỏ lang thang bán hàng rong trên đường phố Ensenada hôm cuối tuần.

– Que étas haciéndo a qui Carlito?
– Ðể dành ngày mai, doctor. Y usted?

Như không hài lòng với tiếng Tây Ban Nha nặng mùi Việt gốc Quảng Nam của tôi, Carlos trả lời bằng tiếng Anh pha giọng Mễ, những chữ “r” rung lên rần rật, âm hưởng nặng hơn người dân Thừa Thiên. Già Carlos làm tôi nhớ đến ông Sáu người ở miệt Truồi hay Bao Vinh gì đó. Năm lên chín, tôi mê những chuyện kể của ông những khi ông Sáu đã ngà ngà say trong hơi rượu đế. Những chuyện làm tôi hoang mang không ngủ hằng đêm nhưng vẫn thích nghe mỗi chiều khi ông đi làm sở Mỹ về. Ông Sáu làm nghề mổ xác lính Mỹ. Ông kể, công việc của ông là tắm rửa xác những người lính Mỹ tử trận trước khi cho vào hòm chở về Mỹ. Có khi ông phải mổ lấy bộ đồ lòng, rửa sạch, kế đến khâu bụng người chết lại bằng chỉ may bao bố, cho khỏi thối. Dù mẹ tôi vẫn cấm không được đến gân ông Sáu say, tôi vẫn lẩn quẩn quanh ông vì lúc nào ông cũng có quà cho, khi thì thỏi kẹo cao su, lúc một quả táo mà ông đã lén dúi vào túi xách. Ðã nhiều lần, tôi ngần ngại nhận quà từ tay ông. Bàn tay đã móc ruột những người lính Mỹ. Có bữa ông đem về nhà một khúc thịt bò to tổ đem cho hàng xóm. Cứ tưởng ấy là khúc đùi của một người lính nào đó, tôi lợm giọng đến mấy ngày sau.

Ừ, tôi làm gì ở đây nhỉ? Ðịnh trả lời câu hỏi của già Carlos, nhưng cái vật nặng mà ông đang ì ạch kéo vào phòng làm tôi im bặt. Ðó là một chiếc xe băng ca mà già Carlos vẫn đón những người bệnh vừa mới qua đời từ những trại bệnh. Có ngày không có mạng nào, có bữa bốn năm là thường. Lặng lẽ nhìn già Carlos kéo chiếc băng ca, khăn ra trắng phủ kín đi qua mặt, tôi dửng dưng, thêm một mạng nữa. Ai sinh ra thì cũng phái chết, có thế thôi. Tôi không buồn nhìn mặt người quá cố khi già Carlos chuyển các xác ấy vào ngăn kéo. Tôi đã quen, đã chai lì. Trước sau gì thì chúng tôi cũng biết nhau thôi. Biết từ trong ra ngoài, từ những buồng phổi lạnh trơ, những nảo bộ giờ đây vô tri vô giác, đến những mạch máu giờ đây khô cạn. Thêm một cái xác được đút vào ngăn tủ lạnh. Những cái huyệt nổi với những hộc tủ lớn được xây chìm vào khoảng tường lớn nhất của căn phòng rộng, và những cái xác đóng băng tím rịm. Thật ra, công việc của tôi ngày nay không khác già Sáu ngày xưa là bao. Mổ giảo nghiệm tử thi. Nghĩ cũng buồn cười, sau bao năm trường thuốc, tôi lại đi làm cái nghề mổ xác chết. Ðiều quái dị là tôi lại say mê cái công việc của mình làm. Như một nhà khảo cổ, tôi hì hục đào bới, mổ xẻ, cố đoán biết ít ra một phần đời sống của người đã đi qua. Lắm lúc chỉ là những võ đoán mơ hồ.

Ðóng mạnh hộc tủ, già Carlos quay lại:

– Bác sĩ chưa về sao. Ðã hơn mười giờ đêm rồi.
– Tôi chờ đến khi tuyết ngừng rơi.

Khoanh tay, tôi phóng tầm mắt ra ngoài khung cửa sổ. Màn đêm mù mịt những bụi tuyết lất phất bay. Tôi nhớ những ngày mưa phùn rĩ rả ở Huế năm xưa, tôi đã ngồi lì bên khung cửa sổ, co ro trong chiếc áo len màu tím sẫm.

– Biết bao giờ tuyết mới ngừng rơi. Bác sĩ nên về nghỉ, ngày mai còn làm việc nữa chứ.
Già Carlos ngập ngừng. Ông già tuy chất phát, nhưng cũng khá nhạy cảm. Tôi tiếp lời:

– Tôi không có gia đình, có ai đâu mà về cho sớm. Ông nên về trước đi.
– Bác sĩ có cần quá giang xe của tôi không?

Ông già ngần ngừ giờ phút chót. Tôi lắc đầu quả quyết:

– Không. ông cứ đi.
– Si. Usted.
Tôi đã nói dối. Khi già Carlos vừa đi khỏi, tôi lại thấy mình cô quạnh trong cái nhà xác vắng ngắt nầy. Tiếng thời gian bò ì ạch trên vách tường, lê mình qua một ngày mới, hòa nhịp cùng tiếng nước nhỏ đều trên cái mâm thau của chiếc bàn mổ làm tôi khó chịu. Một chút máu bầm loang loáng chảy xuống ống rút nước mang theo một vài mảnh da nhỏ, trả về với cát bụi. Tôi như nghẹn thở, bủa vây trong sự dẫy chết lần mòn của thời gian. Cái cảm giác bồn chồn, xót ruột gan của một người đau bao tử kinh niên sắp nôn oẹ xuống sàn nhà. Phải về thôi. Tắt đèn, tôi bước xuống hành lang. Cơn gió lạnh xoáy rào rào vào mặt những bụi tuyết mỏng manh, khi tôi vừa bước chân ra khỏi cửa bệnh viện. Tôi tiếc rẻ, nguyền rủa chính mình đã không quá giang xe già Carlos. Tuyết khắp mọi nơi. Nhìn chiếc xe đạp của tôi nằm cong queo, lạnh cóng bên chân trụ đèn, dưới ánh đèn đường leo lét của sân bệnh viện, tôi ái ngại. Giờ nầy có khùng mới đi xe đạp về nhà. Thôi kệ, bỏ xe đạp ở lại sở, cuốc bộ về có lẽ an toàn hơn. Kéo chiếc mũ áo khoác trùm kín đầu, thọc tay sâu vào túi quần để tìm hơi ấm, tôi lao đầu vào màn đêm đầy bụi tuyết.

Con đường từ chỗ làm về nhà không xa lắm. Tôi vẫn thường đi bộ hoặc đi xe đạp để đi làm hằng ngày. Với cơn bão tuyết bất ngờ, con đường quen thuộc khi sáng giờ đây trở thành xa lạ. Những đám cây khô co ro, rũ rượi chôn chân, bất lực trên nền tuyết trắng xóa lồi lõm, gập ghềnh khắp sườn đồi. Xen kẽ, vài đám thông già vẫn sừng sững thách đố, nhắc cho tôi nhớ rằng chỉ có tôi với cuộc đời nầy là ngắn ngủi, là mỏng manh như bụi tuyết kia đến, rồi đi. Tôi đi bộ ra phía lòng đường, một phần sợ vi phạm, dẫm lên lớp tuyết mềm, còn trắng trinh nguyên, phần khác giờ nầy cũng chẳng còn xe cộ qua lại. Mọi người đã về nhà quây quần với gia đình từ lúc chiều, không có ai như tôi, gần mười hai giờ đêm Giáng Sinh lại lội tuyết lang thang ngoài trời như thế nầy.

Tôi lầm.

Chập chờn trên tuyết trắng, trước mặt mươi bước, một chiếc áo đi mưa màu ngà phất phơ trong gió. Ít ra cũng có kẻ khùng. Như tôi. Co ro, vội vã bước lên cho kịp người đi trước, tôi cất tiếng chào hỏi:

– Cũng đi làm về trễ hay sao?

Người lạ quay lại. Ðó là một người đàn bà da trắng còn trẻ, ngoài ba mươi là cùng. Khuôn mặt dễ nhìn. Chỉ làn da trắng bệch, và đôi môi hơi tím phần vì lạnh, phần vì phản chiếu từ ánh đèn vàng hiu hắt. Ðôi lưỡng quyền cao làm cho đôi mắt đen sâu thêm chút đỉnh.

– Chào ông.
– Cô làm ở bệnh viện?
– Cứ cho là như vậy đi.

Người đàn bà đáp hững hờ, quay đầu tiếp tục rảo bước. Tôi e dè. Có lẽ đây là một trong những nhân viên y tá, không thích sự sỗ sàng của một người bác sĩ như tôi. Ðược dăm bước tôi lại gợi chuyện:

– Cô…
– Yes.
– Tôi đã gặp cô chưa?
– Tôi nhớ ra rồi. Ông là người rất thích đọc sách.
– Sao cô biết?
– Tôi đi ngang thấy.

A. Tôi chưng hửng. Một phần đời sống riêng tư của mình có người biết đến.

– Ông đọc những gì?
– Ðủ thứ. Còn cô, cũng là người thích đọc sách?

Tôi nghĩ đến những người con gái đã gặp, đi đọc sách chùa ở tiệm sách Borders mỗi cuối tuần.
– Vâng. Chút chút thôi.
– A ha…Chuyện gì đáng nhớ mà cô đã đọc qua?
– Hum…
Kẻ đối diện ậm ừ miễn cưởng.
– Ông muốn biết?
– Nếu được. Dầu gì thì đường cũng còn dài, chưa đến nhà cô chứ?
Ðảo mắt nhìn những ánh đèn vàng hiu hắt chung quanh, tôi nghĩ đến quãng đường về nhà mình thì đúng hơn. Còn phải qua một khoảng công viên rộng, um tùm những cây cổ thụ, tôi mới ra khỏi khuôn viện bệnh viện. Thêm hai khoảng đường qua dãy nhà lưa thưa, tôi mới về đến khu chung cư quen thuộc. Ở đó, không biết người lính gác có chờ tôi như mọi ngày, chào đón bằng một câu đùa quen thuộc: “- By yourself again tonight, Doc?”. Một lời chào đón điểm mức tới của tôi sau hơn hai dặm đường dài lội bộ mỗi ngày .
Người đàn bà nhỏ nhẹ:
– Chuyện một văn sĩ Tây Ban Nha viết về một người đàn ông…
– Và một người đàn bà?
– Không. Một con thú. Tại sao lại luôn luôn là đàn ông với đàn bà?
– Ðó là một câu chuyện dài nhất mà người ta đã tốn không biết bao nhiêu chữ nghĩa. Hơn nữa, tôi yêu những chuyện tình. Những chuyện tình đẹp…và dở…như nhau.
– Ông hãy để tôi kể… Có một người thợ săn, đi săn một con báo. Ông ta thức từ đêm nầy qua đêm khác. Cho đến đêm thứ bảy thì ông ta đã mỏi mệt. Khi ấy có một người con gái thật đẹp đã đến với ông ta. Hai người đã cùng nhau sống ba đêm liền hạnh phúc.
– Rồi những gì xảy ra trong đêm kế tiếp?
– Ông thiếu kiên nhẫn lắm!
Như một người mẹ, nàng nhếch đôi lông mày, nghiêng đầu nhè nhẹ. Tôi, đứa con trai nhỏ, chột dạ. Trong chiếc mũ trùm đầu, không gian thu hẹp lại vào khoảng công viên trơ trụi lá về phía trước. Tôi có thể mường tượng đến nỗi cô độc của người thợ săn tội nghiệp kia, một mình trong rừng vắng.

– Ðêm ấy người thợ săn nghe một tiếng súng lớn. Cô gái hình như đã bị trúng đạn vào tim chạy lão đảo dưới ánh trăng rồi lao đầu vào một hồ nước lớn. Người thợ săn nhảy theo người con gái. Khi ấy ông ta nhận thấy ra sự thật là con báo mà ông ta đang theo đuổi và người con gái chỉ là một.

– Ngụ ý của câu chuyện?
– Tôi để ông suy nghĩ.
– Huh…

Im lặng. Ðêm lạnh buốt. Chúng tôi lầm lũi trong bóng tối. Bước chân tôi sột soạt, bước chân người bạn đường nhẹ nhàng lướt đi trên tuyết. Tiếng gió nhè nhẹ rít qua những cành cây khô trụi lá. Chúng tôi vừa ra khỏi khuôn viên bệnh viện. Tôi kéo chặt khăn quàng cổ. Bỗng dưng tôi thèm nghe tiếng ve sầu nỉ non, một vài tiếng chim cú đi ăn đêm, hay một vài con chó, hay mèo hoang lang thang đi tìm bạn nửa khuya.

– Còn ông?
– What?
– Ông đã đọc những truyện gì cho là đáng nhớ?
– Tôi đang nghĩ đến một câu chuyện dự định sẽ viết.
– A ha. Ông viết chuyện? Tôi nghĩ là khó lắm.
– Cái khó là tìm chủ đề làm sườn của câu chuyện, còn sau đó mình muốn vẽ rồng hay vẽ rắn thì cũng dễ thôi?
– Ông nói như một văn sĩ.
– Thú thật tôi chưa bao giờ cầm bút cả. Tôi không có tham vọng làm văn sĩ. Tôi chỉ muốn nói lên những điều tôi suy nghĩ. Viết ra, rồi đọc lại cho chính mình. Cái thú như được làm tình. Với chính mình…
Tôi dừng lại. Mình hơi quá trớn. Người bạn đường có lẽ không phiền, lại khuyến khích:
– Ông hãy kể tôi nghe chuyện của ông đi.
– Tựa đề của câu chuyện là “Người đàn ông giác ngộ cuối cùng”
– Tại sao lại như thế?
– Cô thiếu kiên nhẫn lắm!

Tôi trả thù. Người khách im lặng. Tôi ân hận im lặng nhìn hơi thở của mình quyện thành khói, đọng lại thành những giọt nước rĩ trên môi lành lạnh.

– Chuyện về một người đàn ông khi qua đời, có những thiên thể có cánh đến và nói với ông ta rằng ông ta là người cuối cùng tồn tại trên thế gian nầy. Nói cách khác nếu Adam là người đầu tiên thì người nầy là kẻ cuối cùng. Vì là kẻ cuối cùng trên thế gian, cho nên những người đã giác ngộ, đã biến thể qua một thế giới khác phải tạo cho anh ta một thế giới gồm toàn ảo ảnh, trong đó gồm cả vợ con của anh ta. Hy vọng rằng anh ta sẽ giác ngộ để người ta có thể đóng cửa thế gian nầy để đi tạo một thế giới khác.

– Ông giàu tưởng tượng lắm!
– Cám ơn!

Tôi nhìn lướt qua một vài khung cửa, những ánh đèn màu xanh đỏ chớp nháy từ những cây Noel lọt ra ngoài. Ở trong đó, có những cuộc đời đóng khung chữ nhật. Một gia đình, vợ chồng con cái, với nhau trong một bức tranh màu sắc. Tôi không rõ có bao nhiêu cuộc đời đóng khung như thế được xem là hoàn hảo. Ðiều tôi biết, bây giờ, chỉ có tôi với cuộc đời mình, ở ngoài nầy với đêm đen đường như vô tận, một mình một nỗi cô đơn. Người khách vẫn nhẹ tênh trên đường tuyết nhấp nhô. Thỉnh thoảng, nàng quay đầu nhìn những ánh đèn mờ trải xuống vuông vức trên những hiên nhà vắng lặng, tỏ vẻ e ngại, pha một chút hoảng hốt:

– Tôi muốn biết người ấy nghĩ gì?
– Ah, hắn ta khóc tức tửi đòi trở về với thế giới ảo ảnh ấy. Người ta bảo đây là lần thứ ba người ta phải anh trở về, sống lại từ đầu vì chưa giác ngộ.

– Ngụ ý của câu chuyện?
– Tôi để cô đoán.
Tôi tàn nhẫn trả thù. Một lát tôi lại ân hận.

– Thực ra tôi chỉ muốn nói rằng tôi không biết khi tôi chết, có một thế giới bên kia hay không. Ðiều quan trọng là tôi đang sống, vì thế, tôi phải sống cho trọn vẹn, để cuối cuộc đời nhìn lại tôi sẽ không tiếc. Kinh nghiệm hằng ngày cho thấy người y sĩ chúng tôi chỉ kéo dài cái chết chứ không phải cứu lấy sự sống. Cái gì bắt đầu thì phải kết thúc. Vì thế không có gì quý giá hơn giá trị của cuộc sống từng ngày. Hơn nữa, theo tôi sự sống không mất đi bằng một cái chết đột ngột, mà bởi những cái chết nho nhỏ ngày qua ngày, tích lũy lên nhau, có đúng không?… Giả dụ tôi có thể sống lại một lần nữa, tôi sẽ sống như tôi đã sống… Thế thôi.

– Bây giờ ông là một triết gia.
– Không đúng hẳn. Tôi chỉ muốn sống như một người bình thường. Sự hiện hữu của tôi là hữu hạn trên con đường dài vô han… Cô biết không, mỗi sáng tôi đón chào một ngày mới bằng một ly cà phê nóng, để thấy mình hạnh phúc được sống thêm một ngày nữa…Còn cô?
– Tôi không như ông. Tôi đã sống và tôi đã tiếc. Tôi mong lần sau gặp lại tôi sẽ hỏi ông thử là ông đã thay đổi ý kiến chưa?

Chúng tôi sắp ra đến đường cái chính. Tôi đã thấy ánh đèn đường sáng lấp loáng sau rặng cây thông rậm lá. Quẹo trái ở cuối đường, thêm vài trăm thước, lên ba từng lầu, cuối một hành lang, tôi sẽ tìm thấy chăn nệm ấp áp quen thuộc.

– Khi nào tôi sẽ gặp cô lại?
– Tại sao ông vội thế? Già Carlos chẳng bảo ông là để dành ngày mai hay sao? Trước sau gì thì chúng ta cũng biết nhau thôi. Biết từ trong ra ngoài, từ hai buồng phổi lạnh trơ, một não bộ giờ đây vô tri vô giác, đến những mạch máu giờ đây khô cạn, có phải không ông?

Gió lại nổi lên ào ạt. Dưới ánh đèn đường chợt sáng bóng người đàn bà giờ đây tan loãng dần trong bụi tuyết. Những lời nói mỉa mai sắc lạnh, vang vọng trong tiếng gió rít rì rào trên cành như thể dược phát đi từ óc tưởng tượng trong khung sọ của chính tôi mà thôi. Dưng không, tôi thấy mình ngơ ngác trong lòng con đường nhỏ. Hai bàn tay co quắp, quơ cào trong túi áo khoác rộng. Ðôi chân cuống cuồng bước vội. Tuyết quẫy động dưới mặt đường. Tuyết xoáy cuộn không gian. Có phải mình là người giác ngộ cuối cùng đang sống trong cõi tạm nầy, tôi không biết, nhưng tôi chắc rằng tôi nghe rất rõ lời chào đón quen thuộc của người lính gác ở cuối đường:

– By yourself again tonight, Doc?

Chỉ có một mình tôi sao? Lại chỉ có một mình tôi! Vì ngoài kia, tất cả là ảo ảnh đang tan biến vào không khí, bụi tuyết mù khơi.


Image


21205 top -
_______________________________________________
Lệ Đá - thơ - Nguyễn Tư Phương _______________________________________________

Image

trong hơi thở
đá nằm
nghe lạnh quá
hồn phong linh
quạnh quẽ
tiếng rung buồn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Cũng Cùng Là Mẹ - văn - Hoài Yên _______________________________________________

Image

Con người sinh ra ai cũng muốn có cái quyền nói lên tiếng nói của chính mình. Tại sao một đứa bé vừa rời lòng mẹ lại khóc oe oe? Tại sao không cần chỉ hít vào lồng ngực một luồng không khí là buồng phổi tự động nở ra mà phải khóc thét lên một tiếng? Phải chăng tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh ấy cũng như một tiếng nói của riêng nó hầu nhấn mạnh sự có mặt của nó trên cuộc đời này.

xem tiếp...

_______________________________________________
Lời Cầm Sương Tôi - nhạc - Nguyễn Tiến Dũng _______________________________________________

Image

buông tay
ngây ngất dịu dàng
buông hồ cầm bặt âm vang
buông thanh âm
thơ ngát không gian
khép mặt giã từ...

xem tiếp...

_______________________________________________
Hsinbyume - tranh - Đỗ Danh Đôn _______________________________________________

Image



xem tiếp...