THƠ........TRUYỆN / TÙY BÚT......TRANH ẢNH.......NHẠC / GHI ÂM........ĐỘC THOẠI......TUYỂN
E-CAFÉ........HOA THƠM CỎ LẠ.......CHUYỆN PHIẾM.......NỮ CÔNG / GIA CHÁNH.......HỎI / ĐÁP










k i ế n. t h ứ c .Y .K H O A
____________________________________________________________________________
b á c s ĩ h ồ n g ọ c m i n h




20327



Image

n h ó m. m á u .A B O
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Con người ta có bốn nhóm máu chính A, B, AB và O, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa hiểu thấu đáo tại sao, xuất xứ từ đâu lại có 4 nhóm máu đó.
Người Trung Hoa từ xưa đã biết chứng minh sự liên hệ về huyết thống bằng cách trích máu và trộn vào trong chén. Phương cách chứng minh này ngày nay qua sự truyền máu cho thấy nó không được chính xác lắm, vì lẽ, người lạ, không liên hệ máu mủ vẫn có thể truyền máu cho nhau.

Khoảng những năm 1600, các vị thầy thuốc Pháp đã thí nghiệm truyền máu bò vào cho người, dĩ nhiên là kết quả không mấy êm đẹp, làm cho các bác sĩ hoảng sợ và “tịt” một thời gian lâu. Mãi đến hơn 150 năm sau, vào năm 1817, một bác sĩ người Anh tên James Blundell, đưa ra nhận xét “chí lí” hơn, “người chỉ nhận được máu người mà thôi”. Tuy nhiên cứ 10 người được ông tiếp máu chỉ có 4 người sống sót. Nhiều thí nghiệm “khoa học” khác như trộn máu với sữa bò trước khi truyền vào người ta cũng chỉ làm cho bệnh nhân mau… chết hơn.

Năm 1900, Bác sĩ Karl Landsteiner bằng cách quan sát hiện tượng máu đóng cục khi hòa vào nhau trong ống nghiệm, đã phát hiện ra 3 nhóm máu chính A, B, C. Sau nầy nhóm máu C được đổi tên thành máu O vì nhóm máu nầy không gây ra phản ứng khi truyền vào hai nhóm kia. Về sau nữa, nhóm máu AB được phát hiện thành ra có 4 nhóm máu chính. Năm 1930 Bác sĩ Landsteiner được tặng thưởng giải Nobel cho công trình nghiên cứu của ông. Vào giữa thế kỷ 20 Bác sĩ Phillip Levine khám phá ra các nhóm máu chính còn có thể phân loại thành máu Rh(+) và Rh(-).

Thử tưởng tượng những tế bào máu giống như những cái bánh đô-nut li ti có trang điểm bằng những hạt cốm đường nho nhỏ bên ngoài. Những hạt cốm màu nầy giúp phân loại máu gọi là “antigen”. Antigen có thể hiểu là “yếu tố gây ra dị ứng”. Như vậy nhóm máu A có antigen-A, nhóm máu B có antigen-B, nhóm máu AB có antigen-AB, còn nhóm máu O không có antigen nào cả, một loại đô-nut trần, không gây ra dị ứng khi truyền vào các nhóm máu khác. Như vậy, trong khi hai nhóm máu A hoặc B không chịu chơi với nhau, nhóm máu AB “ích kỷ”có thể nhận máu nào cũng được nhưng không thể cho ai, còn người có máu O “vị tha” có thể cho tất cả mọi người khác nhưng chỉ nhận được máu O mà thôi.

Sau thập niên 1990’s với tiến bộ về kỹ thuật DNA người ta biết có một gene di truyền gọi là gene ABO chi phối 4 nhóm máu tùy theo các đột biến (mutation) trên gene ABO nầy. Thật ra nhóm máu O là một nhóm máu “hỗn tạp” vì qua quá trình tiến hóa của loài người, bất kỳ những đột biến to nhỏ từ hai nhóm máu A, B đều cho ra máu O. Thật ra vì những đột biến, còn có một nhóm máu thứ 5, không phải A, B, AB, hay O gọi là nhóm máu Bombay vì được phát hiện đầu tiên ở thành phố Bombay vào năm 1952. Những người có loại máu nầy chỉ cho và nhận từ người có cùng loại máu mà thôi. Ngay cả khi được truyền máu O, những người có máu Bombay cũng bị phản ứng chết người. Người ta còn biết con người và con vượn có chung một nguồn gốc gene ABO từ 20 triệu năm trước. Hiện nay khỉ dã nhân chỉ có máu A và máu O, còn khỉ đột thì chỉ có máu B. Người Việt Nam, khoảng 42 đến 46% có máu O, 20% có máu A, 30% có máu B và dưới 5% có máu AB. Trong khi một số bộ tộc người Nam Mỹ chỉ có tuyền máu O (99-100%), ở Phi Châu có 60 đến 70% máu O, ở Bắc Mỹ thành phần máu O trung bình cho mọi chủng tộc là 45%.

Bây giờ nói đến phân loại máu Rh(+) và Rh(-), khám phá của Bác sĩ Levine khi dùng máu của con khỉ Rhesus để nghiên cứu. Như thế, từ 4 nhóm máu chính có thể chia làm 8 nhóm máu nhỏ, thí dụ máu O cũng có thể là O+ hay O-, v.v… Vấn đề ở đây, nhóm máu Rh có ảnh hưởng đến việc mang thai của phụ nữ. Trên nguyên tắc, khác với nhiều người lầm tưởng, máu của thai nhi và máu của người mẹ không bao giờ trộn lẫn với nhau nhưng một số chất bổ, hormone và kháng thể có thể thẩm thấu qua lại hai bên hệ thống máu. Vì thế, thí dụ em bé có máu Rh(+) vì người cha có máu Rh(+) mà người mẹ lại có máu Rh(-), trong thời gian mang thai lần đầu, em bé không sao cả vì được bảo vệ bởi màn chắn, là lá nhau. Tuy nhiên sau khi sanh bé đầu tiên, khi lá nhau tách ra, máu của mẹ Rh(-) sẽ “thấy” được máu của em bé và tạo ra kháng thể chống lại máu Rh(+). Khi có thai lần thứ hai, kháng thể có thể vượt “tường lửa” để phá hoại em bé thứ nhì vì nó nghĩ em bé là “kẻ xâm lăng” cần tiêu diệt. Hiện nay ngay sau khi sanh và khi bị sẩy thai, người mẹ có máu Rh(-) sẽ được chích một mũi thuốc có tên là Rhogam để ngăn ngừa cơ thể tạo ra kháng thể. Tương tự, nếu em bé có nhóm máu ABO khác với máu của người mẹ, có khi máu của bé bị hủy diệt hàng loạt, và cần phải truyền máu sau khi sanh.

Có nhiều “huyền thoại” được suy diễn, để giải thích tại sao lại có 4 nhóm máu như vậy.

Giả thuyết thứ nhất chủ xướng bởi Peter D’Adamo, cho rằng nhóm máu O là nhóm máu nguyên thuỷ của loài người, khi còn ở Phi Châu, nhóm A phát sinh khi con người biết trồng trọt canh nông, nhóm B phát sinh khi con người di cư lên vùng cao như rặng Hy Mã Lạp Sơn, còn máu AB là do hai nhóm A và B trộn lại. D’Adamo lý luận là con người dễ bị bệnh hoạn vì ăn uống không đúng theo nhóm máu của mình. Theo ông, người có nhóm máu O phải ăn thịt nhiều cho giống thời kỳ còn ăn lông ở lổ, còn người có nhóm máu A thì phải ăn chay trường, v.v… Dĩ nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy lý thuyết nầy là vô căn cứ.

Giả thuyết thứ nhì cho rằng tánh tình mỗi cá nhân chịu chi phối bởi nhóm máu của người đó, và, tánh tình hợp nhau khi nhóm máu cũng hợp nhau! Ở đây không đi sâu vào chi tiết, nếu bạn đọc muốn tìm hiểu thêm, “Google sẽ là bạn của bạn”.
Một cách khoa học hơn, nhóm máu được phát sinh là do ảnh hưởng của môi trường trong quá trình tồn vong của loài người. Tuỳ theo mỗi vùng sống và thời điểm, con người phải chống chọi với đủ loại bệnh tật, vi trùng, vi khuẩn… Những người có máu tương thích thì mới có thể sống còn và truyền đến chúng ta ngày nay. Thí dụ người có nhóm máu O ít bị bệnh sốt rét hơn, có thể vì thế những sắc dân ở Nam Mỹ và Phi Châu vì sống trong rừng nhiệt đới, nhóm máu O chiếm đa số? Một thí dụ khác là siêu vi norovirus gây ra thổ tả trên các du thuyền như Caribean cruise, có mức độ tác hại khác nhau tuỳ theo nhóm máu của mỗi người. Thống kê còn cho thấy người có nhóm máu A dễ bị bệnh tim mạch, bệnh sởi, dễ bị ung thư các loại như ung thư máu và ung thư pancreas, và dễ chết vì bệnh sốt rét. Trong khi đó người có nhóm máu O thì dễ bị loét bao tử.

Máu gì cũng là máu, không có máu nào trội, “trên cơ” hơn máu nào cả. Sự hiểu biết về nhóm máu ngày nay có tác dụng thực tiển trong việc cứu chữa người qua việc truyền máu tương thích. Vì máu được cơ thể sản xuất và đào thải thường xuyên, những bạn nào có nhóm máu “vị tha” nên đi cứu người bằng cách hiến máu. Cho ra thì sẽ được đền bù, rất có thể một ngày nào đó, chính bạn hay người thân được cứu rỗi vì máu của những người “rộng lượng” khác hiến cho.

Image


20328



Image


h ộ i. c h ứ n g .T Ự .K Ỷ
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Tự kỷ - autism bao gồm một nhóm các chứng rối loạn phức tạp về phát triển của hệ thần kinh nơi một số trẻ em. Những trẻ em mang hội chứng tự kỷ biểu hiện những khiếm khuyết ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau về tương tác xã hội; khiếm khuyết về truyền thông giao tiếp qua ngôn ngữ cũng như qua biểu hiện của thái độ; và các sinh hoạt sở thích cá nhân bị hạn chế, lặp đi lặp lại.

Theo định nghĩa mới trong năm 2013, tự kỷ được xem như là một nhóm hay đúng hơn là một “chuỗi triệu chứng” nặng nhẹ, gọi là Autism Spectrum Disorder, đại khái như chuỗi màu đậm lạt của quang phổ ánh sáng (spectrum). Như thế tự kỷ không phải là một chứng bệnh.

Trẻ em bị tự kỷ thường có khiếm khuyết về trí thông minh, khó khăn trong việc giữ thăng bằng hay sử dụng một số cơ bắp; khó khăn trong việc tập trung tư tưởng, cộng thêm một số tình trạng ảnh hưởng đến sức khoẻ như rối loạn đường tiêu hoá. Tuy nhiên một số trẻ em bị tự kỷ lại có thị giác rất tốt, giỏi âm nhạc, toán học, và hội họa cũng như nghệ thuật.

Tuy rối loạn tự kỷ bắt đầu rất sớm trong giai đoạn phát triển của não bộ thai nhi, nhưng triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi 6 tháng và rõ rệt nhất là khi bé độ 2, 3 tuổi.

Tự kỷ có nhiều hay không?

Câu hỏi đặt ra, dường như, những năm gần đây chúng ta nghe nhiều đến chứng tự kỷ, phải chăng em bé bây giờ bị tự kỷ nhiều hơn xưa? Theo thống kê hiện nay, ở Mỹ cứ trong 68 trẻ em thì có một em bị tự kỷ, con số tăng gấp 10 lần so với 40 năm trước. Tuy nhiên sự tăng vọt phần lớn chỉ vì chúng ta để ý và biết nhiều về tình trạng này hơn xưa mà thôi.

Bé trai dễ bị tự kỷ hơn bé gái: 1/42 so với 1/189. Ở Mỹ có 3 triệu trẻ em bị chứng tự kỷ, và trên thế giới có khoảng 10 triệu. Theo ước tính, mỗi năm con số trẻ em bị tự kỷ sẽ tăng từ 10 đến 17%. Lý do cũng chưa biết rõ tại sao, có thể, vì các phương pháp chẩn bệnh chính xác hơn, hoặc vì lý do ô nhiễm môi trường sống.

Nguyên nhân gây ra chứng tự kỷ

Thật ra, cho đến nay người ta cũng chưa biết rõ một nguyên nhân chính xác tại sao hay chỉ có “một loại” tự kỷ theo đúng nghĩa. Trong vòng 5 năm vừa qua chúng ta biết được một nhóm đột biến về gene có thể gây ra tự kỷ, nhất là khi những trẻ em có gene đột biến chịu sự tương tác với môi trường sinh thái. Công ty Progenesis (http://www.progenesis.com) mà BS. Hồ Ngọc Minh là một sáng lập viên, hiện đang hoàn thành những thử nghiệm gene đặc biệt nhằm phát hiện chứng tự kỷ khi phôi còn 3 ngày tuổi, cũng như khi thai nhi còn trong 3 tháng đầu tiên.

Như đã nói, để có biểu hiện của chứng tự kỷ, ngoài khuyết tật về gene, còn có yếu tố môi trường. Thí dụ, khi cha mẹ lớn tuổi dễ sanh con bị tự kỷ, hoặc trong khi mang thai, người mẹ bị một số bệnh nhất là các bệnh làm cho thai nhi thiếu dưỡng khí.

Xin lặp lại là cần cả hai yếu tố, gene và môi trường, mới có chứng tự kỷ. Vì thế cải thiện môi trường sống cũng giảm bớt khả năng bị tự kỷ cho em bé. Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, phụ nữ có thể giảm bớt nguy cơ có con bị tự kỷ nếu uống thuốc bổ thai có chứa chất folic acid trước và trong khi mang thai.

Một số “huyền thoại” về chứng tự kỷ

Ngoài huyền thoại là chứng tự kỷ trước đây hiếm có và ngày nay “tự nhiên” xuất hiện nhiều, có một số huyền thoại khác cần được bác bỏ hay đã được phủ nhận bởi các nghiên cứu khoa học.

Một số cha mẹ chống lại việc chủng ngừa bệnh đậu mùa, trái rạ cho con trẻ em vì cho rằng thuốc chủng ngừa gây ra “bệnh tự kỷ”. Sự hiểu lầm dựa trên một bài viết y khoa vào năm 1998 của một bác sĩ về ruột, Andrew Wakefield, cho rằng có mối liên hệ giữa thuốc chủng ngừa và các rối loạn đường ruột thường thấy trong hội chứng tự kỷ. Tuy nhiên ông bác sĩ không có con số cụ thể để chứng minh và các nghiên cứu về sau đã phủ nhận điều đó.

Một hiểu lầm thứ ba cho rằng người tự kỷ là người vô tâm vô cảm và dễ nổi khùng, dễ nóng giận, đi giết người hằng loạt. Những hiểu lầm này được “tuyên truyền” bởi những hãng thông tấn truyền hình, một cách vô trách nhiệm, vô căn cứ. Trên thực tế, những người tự kỷ, lại là những người nhạy cảm nhất, ưu tư nhất với cảm tình của người thân chung quanh. Có khi vì quá nhạy cảm mà không biểu lộ ra được bằng thái độ cũng như ngôn từ, đã làm cho họ bị bức xúc, uẩn ức đến độ “tê liệt” thần kinh.

Cần phải làm gì khi có con em bị tự kỷ?

Hiện nay ở Mỹ có rất nhiều cơ quan và phương tiện giúp đỡ cha mẹ hiểu biết thêm về chứng tự kỷ. Tuy nó không phải là một chứng bệnh nhưng cũng làm cho con em khó “hội nhập” vào đời sống chung. Mặt khác cũng không nên gượng ép con em bị tự kỷ phải “sống bình thường” như mọi người. Mỗi trường hợp tự kỷ tùy theo nặng nhẹ là một trường hợp cá biệt, cần được lưu tâm.

Nhiều cá nhân với chứng tư kỷ lại là những người có năng khiếu về toán học, âm nhạc, nghệ thuật cần được khuyến khích và phát triển. Khoảng 40% người tự kỷ có trí thông minh trung bình, không phải là “khờ”. Những người với tình trạng nặng cần phải sống riêng và được chăm sóc chu đáo. Có khoảng 25 % trẻ em với chứng tự kỷ có khó khăn trong ngôn ngữ, cần được huấn luyện để giao tiếp qua những phương tiện khác nhờ vào kỹ nghệ tin học computer chẳng hạn.

Nói chung những cá nhân với chứng tự kỷ cần được tôn trọng, hiểu biết, cảm thông và giúp đỡ.

Image


20385



Image


d ù n g. T H U Ố C .v ừ a .p h ả i
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Tuy các bệnh có “tiếng” như HIV, SARS, cúm gà, và hiện nay là Ebola gây ra nhiều “ấn tượng” nhưng con số tử vong làm thiệt mạng nhiều người lại là bệnh cúm hàng năm. Thống kê cho biết năm 2012 ở Mỹ có 50,000 người chết vì cúm và trong năm 2013 trên toàn thế giới có khoảng 1,000,000: một triệu người, chết vì cúm.

Khác với nhiều bác sĩ đồng nghiệp, trong việc chữa trị hiếm muộn, mỗi bệnh nhân của tôi đều có một lịch trình và liều lượng thuốc riêng biệt, ít ai giống ai. Khi kích thích cho trứng ra nhiều, tôi phải cân nhắc nhiều yếu tố như tuổi tác, sức nặng, số lượng trứng non mà bệnh nhân có được và bao nhiêu trứng trưởng thành muốn có. Nghiên cứu về khoa chữa trị hiếm muộn cho thấy nhiều trứng chưa chắc là tốt và có kết quả được như ý.

Ngược lại sự nguy hiểm của việc dùng thuốc nhiều có thể gây ra tình trạng “kích thích quá độ” (Hyperstimulation Syndrome). Trung bình, cần khoảng mười cái trứng cho việc cấy thai trong ống nghiệm và khoảng hai đến ba cái cho việc bơm tinh trùng vào tử cung. Sử dụng thuốc vừa phải như thế để bệnh nhân không bị kích thích quá độ, giảm bớt phản ứng phụ của thuốc và giảm bớt khả năng sanh nhiều con ngoài ý muốn.

Vì thế mỗi một em bé tôi giúp cho chào đời, đối với tôi là một công trình sáng tạo, như một nhạc sĩ viết ra bài nhạc, một thi sĩ làm bài thơ, hay một hoạ sĩ và một bức tranh… Tuy nhiên làm theo phương cách nầy thì tốn nhiều “suy nghĩ”, khó cho nhân viên y tá phụ việc có thể thi hành “kế hoạch chữa trị” theo “chế độ tự động” được. Vì thế đa số các bác sĩ khác thường có một vài “toa chung”, “one size fits all” để bớt lo lắng và bận tâm.

Trên đây chỉ là một thí dụ cho việc sử dụng thuốc vừa phải để đạt được kết quả tốt cho việc chữa trị. Nhìn xa hơn một chút, trong việc đề phòng hay chữa trị bệnh nhiễm trùng, các bác sĩ khoa phẫu thuật ở Mỹ được khuyên nên bớt dùng thuốc trụ sinh, đồng thời chỉ sử dụng đúng loại thuốc cho loại vi trùng muốn chữa, không dư không thiếu. Trong ngành mổ phụ khoa, những trường hợp nội soi ngày nay được khuyên không nên dùng thuốc kháng sinh để ngừa bệnh nhiễm trùng! Nói dễ hiểu là tránh “dùng gậy đánh banh baseball hay búa lớn để đi đập ruồi”. Lý do là tỉ số bệnh nhiễm trùng bị đề kháng thuốc ngày càng tăng do việc sử dụng thuốc trụ sinh bừa bãi. Vì thế khi có bệnh nhiễm trùng nặng phải nhập viện thì…hết thuốc chữa.

Thoạt đầu một loại thuốc kháng sinh khi còn trong vòng thử nghiệm, liều lượng được thăm dò dựa trên sức nặng và chiều cao của bệnh nhân tình nguyện. Khi được hảng dược phẫm cho ra đời, liều lượng thuốc được đề nghị để thích hợp cho khoảng 70% bệnh nhân dựa trên các nghiên cứu. Vì lý do đó, tối thiểu 30 % bệnh nhân cần những liều thuốc thích hợp cho cơ thể, có khi cao hơn hay ít hơn. Thí dụ trong ngành phụ khoa không phải ai cũng cần uống thuốc Doxicyclin 100mg ngày 2 lần cho 10 ngày để chữa bệnh, đó chỉ là lời khuyên đề nghị chung chung cho bác sĩ mà thôi, còn khi chữa thì tuỳ cơ mà ứng biến.

Nói như vậy không có nghĩa là bệnh nhân có thể tự làm thầy thuốc, tự tiện tùy nghi để thay đổi liều lượng thuốc. Bệnh nhân nên tham khảo ý kiến với bác sĩ xem có thể gia giảm, điều chỉnh lượng thuốc hay không. Ngoài ra những thuốc trị cao máu, cao mỡ, cao đường cần nên cẩn thận nhiều hơn vì phải uống năm này qua tháng nọ. Để bớt uống các loại thuốc nầy, bệnh nhân nên tích cực điều chỉnh lối sống, cách ăn uống, vận động thể dục thể thao.

Ở đây xin mở ngoặc nói thêm về đề tài khá tế nhị và đã giằng co rất nhiều là sự hiệu nghiệm và mức độ an toàn của thuốc dược thảo so với thuốc tây. Thuốc là thuốc, dược tính cũng như độc tính của một số thuốc dược thảo không thể phủ nhận cũng như không thể coi thường được. Vì dược tính hay độc tính của vài loại thuốc dược thảo có khi làm tăng thêm phản ứng phụ khi dùng chung với thuốc tây. Nhìn chung, đã là thuốc cả hai loại thuốc tây và ta đều có dược tính lẫn độc tính. Tuy nhiên hầu hết các loại thuốc tây đều có kiểm nghiệm và định chuẩn vì thế dược tính và độc tính đợc biết rỏ ràng hơn là thuốc dược thảo.

Ngoài ra với những căn bệnh hiểm nghèo thì chỉ có thuốc tây mới có đủ khả năng chữa trị. Thoạt đầu loài người thuở ban sơ nhờ vào cây cỏ có dược tính, nhưng nhân loại có tồn tại và tuổi thọ ngày càng tăng cao là nhờ sự phát triển của thuốc tây cụ thể là thuốc trụ sinh penicillin. Cũng may đối với cơ quan FDA ỏ Mỹ, hầu hết các loại thuốc dược thảo đều thuộc loại vô thưởng vô phạt và được xếp loại là thực phẫm phụ. Bạn có thể sử dụng thuốc dược thảo như thuốc phụ, tuỳ bạn, nhưng phải cẩn thận.

Trở lại với bệnh chết người, tuy các bệnh có “tiếng” như HIV, SARS, cúm gà, và hiện nay là Ebola gây ra nhiều “ấn tượng” nhưng con số tử vong làm thiệt mạng nhiều người lại là bệnh cúm hàng năm. Thống kê cho biết năm 2012 ở Mỹ có 50,000 người chết vì cúm và trong năm 2013 trên toàn thế giới có khoảng 1,000,000: một triệu người, chết vì cúm. Tương tự, trên thực tế không có thuốc chữa cúm mà chỉ có thuốc chủng ngừa có khi “work”, khi không! Đa số bệnh nhân chết không phải vì siêu vi gây ra cúm mà chết vì bệnh phụ gây ra bởi vi trùng khi cơ thể vị thiếu sức đề kháng, cao nhất là chết vì bệnh sưng phổi. Và, lý do chết vì bệnh sưng phổi chỉ vì thiếu thuốc trụ sinh hay bị đề kháng thuốc trụ sinh do việc sử dụng thuốc bừa bãi!.

Tóm lại nên tìm hiểu về thuốc men của bạn đang dùng, nếu cần, tham khảo với bác sĩ để dùng cho đúng, để tăng hiệu lực của dược tính và giảm độc tính lẫn phản ứng phụ của thuốc. Để tránh bị kháng thuốc, không tự làm thầy thuốc, và, tuyệt đối không dùng trụ sinh, “thuốc Pi” của người quen!

Image


20556



Image


m i ế n g. ă n .l à .m i ế n g .t ộ i .t ì n h
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Đúng lý ra bài viết nầy nên đặt tựa là “ Đừng quan tâm đến những gì BS. Minh viết!”

Trong gần hai năm vừa qua, tôi đã viết rất nhiều bài viết y khoa. Thoạt đầu tôi viết về… bệnh hoạn, nhất là bệnh phụ nữ, bệnh hiếm muộn, bệnh yếu sinh lý, những chủ đề trong phạm vi nghề nghiệp của tôi. Tuy nhiên, dần dà tôi nhận ra một điều là những thông tin về bệnh tật, khi viết quá ngắn gọn, sẽ không đủ cho người đọc hiểu về những căn bệnh mà có khi một bác sĩ tốn nhiều năm kinh nghiệm vẫn chưa thấu đáo. Những bài biết về bệnh tật của tôi, e ra lại khuyến khích người đọc tự làm thầy thuốc, gây khó khăn thêm cho các bác sĩ của họ.

Nhận xét rằng, bệnh tim mạch đang nhanh chóng trở thành nguyên nhân gây ra tử vong hàng đầu trên cả các loại ung thư cộng lại, tôi xoay qua viết về đề tài này. Và, để “chữa bệnh tim mạch” thật ra chẳng cần thuốc men gì cả! Tin tôi đi, đừng cho là BS. Minh lại nói dóc nhé. Nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh” thì đúng hơn. Có ba yếu tố gây ra bệnh tim mạch, đó là nếp sống bao gồm chế độ ăn uống và tập thể dục là chính, kế đến là không hút thuốc lá, và cuối cùng là sự hiểu biết về kiến thức y khoa cộng đồng. Vì thế chủ đề các bài viết gần đây của tôi cứ xoay quanh các trục quay nầy. Xin nhắc lại là ngày xửa ngày xưa, hay ngày nay ở các xứ nghèo, bệnh tim mạch không phải là lý do giết người hàng đầu hay thậm chí, không có!

“Miếng ăn là miếng tội tình” là như thế. Biết thế, nhưng, tối ngày bạn cứ đọc tin tức trên mạng và đọc các bài viết của BS. Hồ Ngọc Minh về các tin nóng hổi, giật gân, đại để như ăn thứ nầy tốt cho sức khoẻ, hoặc thứ kia không tốt; cam đoan bạn sẽ hoang mang. “Thôi thì nhịn đói, uống nước lạnh và thở không khí chắc sống lâu hơn!”, có bạn đọc phát biểu như thế. Nghĩ cho cùng, lời phát biểu nầy không trật lắm đâu bạn nhé.

Cụ thể, trong loạt bài gần đây, BS. Minh thông tin, đường là chất độc, dầu ăn nhất là loại dầu xà lách làm hao mòn mạch máu, và ăn thịt đỏ nhất là thịt nướng cháy dễ bị ung thư thận, ruột già, và hậu môn. Một kết hợp giết người mau chóng phải không các bạn, vừa gây ra ung thư và gây bệnh tim mạch.

Nhưng nếu không ăn những thứ đó thì ăn cái gì đây? Bạn có thể trả lời là “ăn cái gì cũng được nhưng ăn ít lại”. Đó chính là lời khuyên của BS. Minh, năm ngoái, nhưng năm nay, lời khuyên đó không còn đúng nữa. Theo nghiên cứu mới nhất đăng trên tờ báo Y Khoa PLOS ONE, ăn đủ mọi thứ ít ít cũng vẫn không tránh khỏi bệnh tiểu đường, bụng bự và dẫn đến truỵ tim, tai biến não và nhiều thứ bệnh “lăng nhăng nó quấy ta”. Hơn thế, những người ăn chay trường vẫn bị bệnh tim mạch, và trên 60% những người bị truỵ tim hay tai biến não, có lượng cholesterol hoàn toàn bình thường!

Cũng trong năm vừa qua, những bài viết khác của BS. Minh liên quan đến đường, trứng gà, muối, cà phê, chocolate và cả rượu đã làm người đọc chóng mặt không ít. Thông tin dường như dồn dập và bất ngờ. Những thứ thức ăn được xem là bổ dưỡng trước đây bây giờ lại là chất độc? Và rất có thể, vài năm nữa, BS. Minh cũng như các “đài thông tin” trên mạng lại đính chánh: “úi, tui nói lộn, cho tui nói lại!”

Các nghiên cứu chỉ thấy được những cái đỉnh của tảng băng dương trên biển, xoay đi xoay lại “đấu tố” các loại thức ăn như thịt đỏ, nhiều mỡ, nhiều đường, nhiều muối, nhiều cholesterol… nhưng lại ít chú trọng đến “hằng đống” các thức ăn khác rất tốt cho sức khoẻ mà không ai quảng cáo. Bạn có biết hảng Coca Cola mỗi năm tốn bao nhiêu tiền để quảng cáo các loại “nước đường” đến người tiêu thụ không? Hàng mấy chục tỉ đô la đấy.

Thế thì, nói dông nói dài, chúng ta nên ăn uống như thế nào đây?

Thật ra đồ ăn là đồ ăn thôi, không ăn thì làm sao sống? Những thông tin viết ra không nhằm mục đích làm bạn kinh sợ đến độ loại bỏ những thức ăn đó ra ngoài. Ngược lại những thức ăn gì được kể là tốt cho sức khoẻ, ăn cho nhiều cho cố mạng cũng không làm cho bạn sống lâu hơn, và có khi lại làm bạn chết sớm hơn vì ăn “đồ bổ” quá nhiều!

Có những nguyên lý bao giờ cũng đúng:

1. Tập thể dục thể thao, vận động nhiều. Tránh ngồi nhiều, vì ngồi nhiều dễ bị bệnh tim mạch và dễ chết sớm.

2. Mệnh đề “ăn gì cũng được, ăn ít lại” vẫn đúng một nửa. Nên ăn ít lại, “uống nước lạnh trừ cơm, ăn lửng bụng một tí, và thở không khi trong lành” vẫn đúng. Ăn ít là cách giảm vòng bụng và tăng vòng đời hiệu quả nhất. Nên để ý hơn nhưng gì bạn ăn vào. “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”, nghĩa là bớt dầu bớt mỡ, bớt đường, bớt muối; tránh chiên và nướng đồ ăn, xào luộc và hấp thức ăn nhiều hơn. Có khi chẳng xào chẳng nấu, ăn rau cải, trái cây tươi lại tốt nhất.

3. Tránh ăn đồ hộp, thức ăn chế biến mà hãy tự nấu (bớt nướng) lấy thức ăn. Cơ thể con người không phải sanh ra để ăn… đồ hộp, đồ trong bịch hay thậm chí đồ “hoá thạnh” được chiên nướng ở các tiệm Mc Donald, các tiệm thức ăn nhanh, fast food!

Dĩ nhiên, tất cả những thông tin nào liên quan đến sức khoẻ cho dù từ BS. Minh hay bất kỳ một bác sĩ nào trên mạng, đều được suy xét kỹ xem có lý, có thể tin được hay không. Nên hỏi, tư vấn thêm với bác sĩ gia đình của bạn trước khi thay đổi một chế độ ăn uống.

Riêng với cộng đồng người Việt định cư ở hải ngoại, mỗi ngày liếc sang trang cáo phó, tôi để ý có hai lớp người ra đi. Một nhóm, hưởng thọ ở tuổi 80 trở lên, thậm chí trên 90, gần 100; và một nhóm khác hưởng dương ở độ tuổi “nửa chừng xuân”, 40-50. Tôi đoán chừng, những người hưởng dương phần lớn từ giả sớm với bệnh tim mạch hay ung thư các loại. Nhóm hưởng thọ, phần lớn đời sống ở Việt Nam và nhóm kia, lớn lên ở Mỹ.

Bạn nghĩ sao?



20710



Image


s i ê u. v i .t r ù n g .Z I K A
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Siêu vi Zika, trước đây là một bệnh ít khi gặp, chỉ gây bệnh cho khoảng năm mười trường hợp ở Phi Châu và một số quốc gia hải đảo, gần đây đã trở thành một mối lo âu toàn cầu. Siêu vi nầy được biết có liên hệ đến sự hư hại về phát triển não bộ của em bé sơ sinh, và Cơ Quan Y Tế Quốc Tế WHO đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở những nước Nam Mỹ.

Bạn đọc có thể không sống ở trong vùng bị ảnh hưởng, nhưng ở thời buổi trái đất mỗi ngày mỗi thu nhỏ lại, chúng ta cần biết có nên quan tâm về mối lo này hay không?

Siêu vi trùng Zika là gì?

Zika có thể gây ra những hư hại cho não bộ của trẻ sơ sinh nếu người mẹ bị mắc bệnh trong thời gian mang thai. Hiện tại không có thuốc chủng ngừa cho Zika, không có cách chữa trị, và cũng không có cách nào để ngăn ngừa sự tác hại cho em bé. Một niềm hy vọng là bệnh nầy hiện vẫn còn hiếm có.

Siêu vi Zika làm sốt, lên sởi, đau nhức khớp xương, đỏ mắt cho khoảng 20% người mắc bệnh, và 80% còn lại không có triệu chứng gì cả. Zika là siêu vi trùng thuộc chủng loại Flavivirus, tương tự như siêu vi gây ra bệnh sốt vàng da, hay sốt xuất huyết, và cũng được truyền bệnh khi bị muỗi cắn, chủ yếu là loại muỗi Aedes aegypti.

Cho tới mãi gần đây, không ai thèm để ý hay quan tâm về bệnh Zika vì nó hiếm, nhưng vì những trường hợp các em bé sanh ra ở Ba Tây (Brazil) có đầu nhỏ tí tẹo khiến mọi người lưu tâm.

Mối liên hệ giữa bệnh Zika và chứng đầu nhỏ thật ra chưa được chứng minh rõ ràng, tuy nhiên cũng kể là có thể xảy ra. Bệnh Zika đến Brazil mới đây, có thể vào thời kỳ Giải Bóng Đá Thế Giới 2014, và từ đó những ca bị chứng đầu nhỏ ngày càng tăng. Giới thẩm quyền xứ Ba Tây đang điều tra nguyên nhân trong số khoảng 4,000 em bị bệnh đầu nhỏ so với tỉ số trung bình là 150 em mỗi năm trước đây. Có thể con số bị thổi phồng vì hơn một nửa trường hợp em bé tuy có đầu nhỏ hơn trung bình nhưng vẫn kể là bình thường, một số khác là do khuyết tật bẩm sinh hay những chứng bệnh khác, như siêu vi cytomegalovirus là siêu vi truyền từ chó mèo sang người, cũng gây bệnh. Tuy nhiên, thế nào đi nữa, con số em bé bị ảnh hưởng, chứng đầu nhỏ có tăng trên mức trung bình.

Cơ quan Kiểm Soát Bệnh Dịch Tể CDC của Mỹ đã có danh sách của 25 quốc gia ở Nam Mỹ hiện có bệnh Zika, mà gần Mỹ nhất là Mễ Tây Cơ. Vì thế trên lý thuyết, bệnh có thể lây lan qua Mỹ, như trường hợp bệnh mới phát hiện ở Texas gần đây.

Nếu bạn không phải là sản phụ đang mang thai thì có nên lo ngại hay không?

Zika còn có thể gây ra một chứng bệnh khác, là bệnh liệt cột sống Guillain-Barre. Mới đây có bằng chứng là siêu vi Zika có thể truyền qua việc giao hợp, tình dục. Tuy không có bằng chứng rõ ràng, nhưng ở Brazil những trường hợp bị liệt cột sống Guillain-Barre cũng tăng cao theo cùng thời điểm lan truyền của bệnh Zika. Vì thế, tuy chưa có cấn thai, nhưng phụ nữ nên cẩn thận, tránh mang thai, tránh giao hợp tình dục khi đi du lịch tới những nước Nam Mỹ.

Nếu bạn có thai và lỡ đến các xứ bị nhiễm bệnh, nguy cơ sanh con bị chứng đầu nhỏ có cao không?

Nguy cơ bị bệnh rất thấp. Theo thống kê dân số Brazil, 4,000 ca em bé bị chứng đầu nhỏ chỉ chiếm độ 0.1 % trên tổng số em bé sanh ra trong năm 2015. Tỉ số này cũng tương đương với những ca bệnh đầu nhỏ vì các nguyên nhân khác ở Mỹ. Thí dụ siêu vi cytomegalovirus là siêu vi truyền từ chó mèo sang người, hay bệnh hồng chẩn rubella cũng gây ra chứng đầu nhỏ. Tuy nhiên, cẩn thận thì vẫn hơn, nên tránh du lịch xuống những vùng bị ảnh hưởng.

Làm sao biết được em bé trong bụng bị nhiễm siêu vi Zika?

Nếu bạn mang thai và có đi xuống những nước bị ảnh hưởng bởi Zika, thì nên cho bác sĩ biết ngay. Chẩn bệnh có thể bằng cách thử máu, thử nước ối, hay làm siêu âm. Vấn đề ở đây là, chứng đầu nhỏ không được biểu lộ rõ ràng mãi đến khi em bé được 6 tháng. Và, cho dù biết em bé bị bệnh, người ta vẫn không biết ảnh hưởng về lâu về dài khi em bé lớn lên.

Zika có ảnh hưởng đến em bé khi lớn lên hay không?

Dị chứng đầu nhỏ vẫn có những biểu hiện bất ngờ, khó đoán. Bác sĩ thường nói với các bà mẹ là em bé sẽ không đi dược và sẽ không nói được. Tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp em bé vẫn đi đứng, và nói năng bình thường. Chứng đầu nhỏ, gây ra bởi Zika hiện vẫn còn mới lạ, người ta chỉ dự đoán những khuyết tật có thể xảy ra dựa trên những tường hợp đã xảy ra từ trước khi có bệnh dịch.

Trong thời gian chờ đợi các cơ quan thẩm quyền, cơ quan chức năng lo lắng về kế hoạch hoạch phòng bệnh cũng như trị bệnh, để tránh bệnh, cách hay nhất là tránh đi lại đến những vùng đang bị ảnh hưởng bởi siêu vi Zika.


21204



Imagenguồn stress.org

S T R E S S. l à .g ì ?
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Hôm qua trong khi lái xe đi làm, tôi giật mình khi làm một con tính trong đầu: trong 20 năm qua khoảng cách lái xe đi làm của tôi cọng lại thành hơn 3 lần khoảng cách từ trái đất lên mặt trăng. Một người bạn nói với tôi, so với phi hành gia Apollo thì tôi chịu đựng stress giỏi hơn nhiều, vì lẽ, sau khi ra khỏi trái đất, mấy ông phi hành gia ngồi “cruise control” tà tà đợi phi thuyền tới mặt trăng, và leo xuống đi một vòng chụp hình “selfie”, mà còn được cả thế giới hoan hô!

Có những việc chúng ta làm thường ngày vẫn không thấy gì gọi là stress, trong khi đó nhiều chuyện lặt vặt xảy ra trong đời sống lại tạo áp lực không ít cho tâm trí và thể xác chúng ta.

Vậy stress là gì?

Mới nghe tới chữ stress là nhiều bạn đã thấy tóc mình muốn dựng đứng lên rồi, phải không? Chúng ta dùng chữ stress những khi mình có cảm tưởng như bị chôn vùi vào trong một mớ hỗn độn của áp lực đời sống và cảm thấy sức lực dường như cạn kiệt. Tất cả chúng ta đều bị stress nhiều lần trong cuộc sống. Một ít stress cũng tốt thôi, vì nếu không có stress thì “cuộc đời chán bỏ xừ”. Một số người có thể đối phó với stress tương đối dễ dàng như… “nước đổ đầu vịt” hay nói nôm na là “điếc không sợ súng”, một số khác thì không. Dù thế nào đi nữa mỗi người đều có một giới hạn của sự chịu đựng.

Stress có thể định nghĩa là phản ứng của hệ thần kinh để đáp ứng một yêu sách, một thử thách, hay một nguy cơ nào đó có ảnh hưởng đến sự an bình của con người. Có nhiều lý do đưa đến stress, nhưng phần lớn là sự thay đổi. Con người ta không thích thay đổi, cho dù sự thay đổi ấy tốt hay xấu, thực hay hư. Sự thay đổi có thể là tạm thời ngắn hạn, nhưng có thể là thường xuyên năm này qua tháng nọ. Thí dụ như chuyện tôi phải lái xe đi làm hơn 250 miles mỗi ngày. Trên đường lái xe, những thay đổi về xe cộ lấn qua, lấn lại thường xuyên, tiếng động xe cộ, tạo cho não bộ những “yêu sách” đòi hỏi não bộ và cơ thể phải đáp ứng tức thì. Có những thay đổi khác lớn lao hơn như ly dị, bệnh tật, hay… tàn tật vì tai nạn xe cộ do lái xe nhiều quá!

Những gì xảy ra cho cơ thể khi chúng ta bị stress?

1. Trước hết là não bộ và hệ thần kinh: Khi chúng ta bị stress, cho dù stress về thể xác hay stress về tâm thần, hệ thần kinh bắn ra tín hiệu, ”viber hay tweeter” đến các cơ phận khác trong cơ thể để đặt cơ thể trong tình huống báo động, hoặc chiến đấu tới cùng hoặc bỏ chạy là thượng sách, phản ứng gọi là “fight or flight”. Hệ thần kinh cảm ứng sympathetic gửi text message cho tuyến thượng thận adrenal gland tiết ra hai hormone gọi là adrenaline và cortisol. Hai hormone nầy làm cho tim đập nhanh hơn, áp suất máu tăng cao, hệ tiêu hóa thay đổi, và lượng đường trong máu tăng vọt. Thông thường thì khi nguy cơ qua đi, có thể trên nguyên tắc sẽ trở lại bình thường nhưng thật ra cũng không bình thường hoàn toàn, vì có cơn bão nào đi qua mà không để lại tàn phá?

2. Hệ cơ bắp: Khi bị stress các bắp thịt co thắt, gồng lên như sắp sửa… đánh lộn. Sự co thắt của bắp thịt làm cho ta bị nhức đầu hay đau nhức khớp xương, “long thể bất an”.

3. Hệ hô hấp: Stress làm cho bạn thở nhanh hơn (hyperventilation) có khi tạo cảm giác như hụt hơi, xỉu, chóng mặt, và bị kinh hãi (panic attack)

4. Hệ tuần hoàn, mạch máu: Khi bị stress cấp kỳ, như khi bị kẹt xe, xém bị tai nạn xe cộ vì người khác vượt đèn đỏ, làm cho nhịp tim đập nhanh hơn, bắp thịt tim co thắt mạnh hơn. Tất cả các mạch máu mở rộng ra để đưa máu đến khắp cơ thể. Bị stress thường xuyên, thí dụ như lái xe đi làm xa mỗi ngày, tới phòng mạch là phải lo khám bệnh nhân tới tấp, có thể làm cho mạch máu bị lỡ loét, bị nghẽn mạch máu, và dễ bị đột quỵ tim!

5. Hệ nội tiết: Như nói trên, khi bị stress, hệ thần kinh trung ương “gọi viber” xuống tuyến thượng thận, yêu cầu sản xuất gấp epinephrine và cortisol. Hai thứ hormone nầy “facebook chat” với lá gan, thúc giục đổ đường ra mạch máu. Lý do vì cơ bắp sẽ cần đường làm nhiên liệu trong trường hợp “sơn hà nguy biến”. Khổ cái là đường tăng trong mạch máu sẽ tạo hiệu ứng “rim đường”, glycosylation như đã giải thích trong bài viết ”Đường là chất độc”, lại làm tăng thêm sự lở loét của mạch máu và tế bào. Cho dù khi cơn nguy biến qua rồi, đường sẽ không rút đi mà được biến thành mỡ đặc và cholesterol. Cơ thể tự dưng lại thiếu đường tạm thời và thúc đẩy chúng ta…thèm ngọt. Đó là lý do tại sao khi chúng ta bị stress thường xuyên có thể làm cho bụng bự. Nghiên cứu mới cho thấy cho dù có sức nặng lý tưởng, những người bụng bự vẫn dễ chết vì bệnh tim mạch nhiều hơn.

6. Hệ tiêu hoá: Stress làm bạn có thể cảm thấy đói và ăn nhiều hơn, hoặc ngược lại không muốn ăn gì cả. Khi bị stress bạn có thể bị ợ chua, khó tiêu. Bao tử của bạn cồn cào như có bươm bướm bay ở trong bụng. Bạn có thể buồn nôn, ói mửa. Lâu ngày có thể bị đau, loét bao tử. Trong khi đó thức ăn chạy qua ruột non sẽ không được hấp thụ bình thường, bạn có thể bị tiêu chảy, hay bị táo bón bất thường.

7. Hệ sinh dục: Khi bị stress, lượng hormone đàn ông testosterone giảm làm cho yếu sinh lý, liệt dương, hiếm muộn. Phụ nữ bị stress có kinh nguyệt bất thường, đau đớn khi hành kinh. Và tương tự như quý ông, không thích chuyện gối chăn, mây mưa, và bị hiếm muộn.

Để đối phó với stress bạn cần người bạn, người thân hiểu biết và giúp đỡ cho bạn. Nên tập thể dục thường xuyên, nên để ý tới chế độ ăn uống, và nên có một “cái nhìn” phóng khoáng. Nên để ý và tìm hiểu những nguyên nhân nào đưa đến stress cho bạn để tìm cách ứng phó. Có khi, bạn nên hiểu là, như mưa và nắng, chuyện trời đất, bạn không thể nào kiểm soát được, và nên chọn thái độ “tới đâu hay tới đó”, như “nước đổ lá môn” mà thôi. Có nhiều tài liệu để đối phó với stress trên mạng, và trong tương lai, tôi sẽ viết thêm về chủ đề này.

Trở lại chuyện mặt trăng, ai dám nói là nó không trong tầm với? Tôi đã lên đến mặt trăng và về một vòng. Hiện nay tôi mới rời khỏi mặt trăng để trở về trái đất cho vòng hai, hy vọng là vòng cuối cùng. Này nhé, trong 20 năm qua, tôi đi 800000 miles, chia cho khoảng cách từ trái đất lên mặt trăng là 238900miles, vị chi là 3.35 lần!

Thấy stress nhiều không?


Image


21252



Image


U Ố N G. T H U Ố C .C H O .Đ Ú N G
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Mỗi lần viết toa cho bệnh nhân, bác sĩ thường dặn dò không những về liều lượng, số lần uống thuốc trong ngày, thời điểm uống thuốc: buổi sáng hay buổi tối, bụng đói hay bụng no, và có nên cử những thức ăn hay những loại thuốc nào khác hay không.

Thoạt đầu thì có vẻ rối rắm, cũng may là hầu hết các thuốc đều có thể uống lúc nào cũng được, không đòi hỏi cầu kỳ, ngoại trừ một số thuốc cần lưu ý.

Trước nhất, đa số các thuốc có thể uống khi bụng đói, miễn là uống với nhiều nước, trừ một số thuốc cần phải uống bụng no vì những lý do sau đây:

1. Để giảm phản ứng phụ có thể gây ra nôn mửa, thí dụ như thuốc trị bệnh gout allopurinol, thuốc giảm căng sữa và trị bướu não bromocriptine, thuốc trụ sinh doxycyclin.

2. Để tránh phản ứng phụ gây ra xót, hay loét bao tử, thí dụ như các loại thuốc giảm đau aspirin, NSAIDS ibuprofen, thuốc steroids chống viêm sưng như prednisone dexamethasone.

3. Các loại thuốc trị bệnh bao tử, ợ chua, ăn không tiêu cần uống trước khi ăn.

4. Một số thuốc chữa trị bệnh về bệnh lở loét răng miệng, ống thực quản, cần uống sau khi ăn, vì nếu uống trước khi ăn, thuốc sẽ bị thức ăn đẩy xuống ruột non mau chóng,

5. Một số thuốc chữa bệnh HIV, ritonavir, saquinavir và nelfinavir cần uống vói thức ăn thì thuốc mới thấm vào máu hữu hiệu,

6. Thuốc trị bệnh tiểu đường cần uống với thức ăn để có thể có thể thấm đường vào máu.

Nói là uống thuốc khi bụng no nhưng thật ra không cần bụng phải no lắm; một vài miếng bánh mì, một ly sữa cũng đủ khi uống những loại thuốc cần phải có đồ ăn.

Mặt khác, như thủy triều lên xuống trong ngày, cơ thể của chúng ta cũng thay đổi theo một nhịp điệu tương tự gọi là circadian rhythm. Tùy theo thời điểm trong ngày, một số hormones hay một số cơ phận sẽ hoạt động tích cực hơn. Cũng vì thế, các loại thuốc men có tác dụng vào nhịp điệu tuần hoàn của cơ thể sẽ có hiệu ứng tốt hơn khi được sử dụng đúng theo thời điểm, buổi sáng hay buổi tối.

Một số thuốc cần uống buổi sáng trước bữa điểm tâm gồm có:

1. Thuốc có chất sắt, trị bệnh thiếu máu cần uống bụng đói với một ly nước cam. Vitamin C có tính acid giúp cho chất sắt thấm vào bao tử nhanh hơn.

2. Thuốc trị bệnh cao huyết áp nên uống sáng sớm khi mới thức dậy, vì áp suất máu thường tăng vào buổi sáng.

3. Thuốc trị bệnh suy tuyến giáp (hypothyroidism), cần uống bụng đói, và không nên uống chung với các thuốc khác kể cả thuốc bổ multivitamin.

4. Các thuốc trị bệnh rỗng xương cần uống buổi sáng, bụng đói.

Một số thuốc khác nên uống sau khi ăn sáng:

1. Thuốc bổ sẽ thấm vào máu dễ dàng hơn vì có chất béo trong đồ ăn. Hơn nữa, thuốc bổ uống buổi sáng giúp cho cơ thể… tươi mát hơn trong ngày.

2. Các loại thuốc trị dị ứng vì các triệu chứng dị ứng thường xảy ra buổi sáng.

3. Các loại thuốc cung cấp vi khuẩn tốt cho cơ thể, probiotics.

Các loại thuốc sau đây có thể uống trước buổi trưa:

1. Thuốc trị bệnh nhức mỏi, phong thấp để tránh nhức mỏi trong ngày

2. Thuốc lợi tiểu, diuretics, vì nếu uống buổi tối sẽ phải thức dậy đi tiểu qua đêm làm mất ngủ.

Cuối cùng buổi tối sau khi ăn:

1. Thuốc trị bệnh cao cholesterol. Nên nhớ 70% cholesterol sản xuất ra bởi lá gan, vào buổi tối. Thuốc giảm cholesterol khống chế sự sản xuất cholesterol nên phải uống vào buổi tối.

2. Các loại thuốc cần phải uống thêm lần thứ hai hay lần thứ ba theo toa bác sĩ.

3. Thuốc ngủ.

Xin lưu ý, một số thuốc cần phải uống đúng giờ mỗi ngày thí dụ như thuốc ngừa thai.

Ngoài ra, một số thuốc có tác dụng phụ khi uống chung với nhau, cẩn thận hơn hết là không nên uống chung với nhau mà chia ra cách nhau độ một tiếng. Thí dụ như thuốc trụ sinh và thuốc ngừa thai.

Thức ăn cần kiêng cử khi uống thuốc gồm các thí dụ sau đây:

1. Trái bưởi hoặc nước bưởi có thể làm có thể làm tăng nồng độ máu của một số thuốc trị bệnh tim mạch, hay thuốc giảm cholesterol statins.

2. Khi uống thuốc loãng máu warfarin thì nên tránh ăn các loại rau cải lá màu xanh có nhiều vitamin K.

3. Còn khi uống thuốc trị bệnh cao huyết áp ACE inhibitors thì nên tránh ăn chuối. Trong chuối có nhiều chất potassium khi dùng với thuốc ACE inhibitors co thể làm rối loạn nhịp đập của trái tim.

4. Khi uống thuốc trụ sinh thì không nên uống sữa hay các thực phẩm biến chế từ sữa, có thể làm cho thuốc không thấm vào máu.

5. Thuốc trị đau nhức NSAIDS có thể làm mạch máu co rút, làm tăng huyết áp, và có thể làm lở loét mạch máu, và làm loét bao tử, không nên dùng chung với tỏi. Tỏi hay bột tỏi có thể ảnh hưởng đến khả năng cầm máu. Khi uống chung có thể làm chảy máu đường ruột.

Trên đây là một vài thí dụ cần lưu ý khi uống thuốc. Nếu không chắc thì nên hỏi bác sĩ và dược sĩ khi được kê toa thuốc. Trên mạng Google cũng có nhiều websites để tra cứu thêm về tác dụng phụ của thuốc men. Uống thuốc đúng sẽ tránh ngộ độc và làm tăng công hiệu của thuốc.


22501



Image


c h u y ệ n. k ể .v ề .T H U Ố C .T R Ụ .S I N H
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Mùa phát giải thưởng Nobel đang xảy ra, ta hãy ôn lại một giải thưởng Nobel có tính cách lịch sử liên quan đến thuốc trụ sinh penicillin.

Bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ thứ 19, rất nhiều nhà khoa học và y sĩ đã quan sát và miêu tả tính chất diệt vi khuẩn của một số nấm và mốc, trong đó có cả loại nấm tên là Penicillium. Quan sát và miêu tả, nhưng hầu hết không đưa ra một lời giải thích nào thỏa đáng. Mãi cho tới năm 1928, khoa học gia người Tô Cách Lan, tên là Alexander Fleming, tình cờ nhận thấy trên đĩa cấy vi trùng Staphylococcus, một loại nấm màu xanh lá cây mọc lấn vào và ngăn chặn sự sinh sản của những con vi trùng Staphylococcus ấy. Tò mò, ông ta tiếp tục cấy riêng những nấm ấy, sau này có tên là Penicillium chrysogenum và lọc ra chất thuốc gọi là “penicillin”. Thoạt đầu ông ta chỉ muốn dùng “chất thuốc” lọc được để làm thuốc tẩy rửa, khử trùng bên ngoài mà thôi. Sau đó, một số bác sĩ đã thí nghiệm sử dụng thuốc penicillin vào việc chữa trị nhiều loại bệnh nhiễm trùng khác nhau. Do phát hiện thuốc trụ sinh penicillin, ông Alexander Fleming được giải thưởng Nobel vào năm 1945.

Sự khám phá ra thuốc trụ sinh penicillin được xem là một loại thuốc huyền diệu. Trước khi penicillin ra đời, một vài vết xướt hay vết trầy nhỏ cũng đủ bành trướng thành những u nhọt nhiễm trùng nặng, đưa đến việc cưa cắt tay chân. Thời đó, cứ 10 người bị sưng phổi có đến 4 người tử vong, và có khoảng 10 người trong 1,000 sản phụ sẽ mất mạng vì sanh nở. Con số thống kê nầy lấy được từ những bệnh viện “cao cấp”, trên thực tế, số tử vong còn cao hơn gấp bội. Chưa kể đến số lượng người bị điếc vì nhiễm trùng lỗ tai, bị mù vì bệnh giang mai hoa liễu, hoặc hàng trăm hàng ngàn binh lính tử vong vì thương tích ngoài mặt trận.

Sự thành công của penicillin đã khiến nhiều công ty dược phòng ráo riết đi tìm thêm những thuốc trụ sinh mới. Nhiều dược phòng đã yêu cầu các nhà truyền giáo ở khắp năm châu, hay những chiến sĩ đi hành quân xa gửi về những mẫu đất, những loại rêu, meo, mốc và nấm đủ loại để tìm tòi ra thuốc trụ sinh mới. Công ty Lederle đã xin những mẫu đất thu nhặt được trong khuôn viên trường Đại Học University of Missouri. Một trong những mẫu đất lấy được từ trong đống cỏ dại của khoa Nông Nghiệp, có chứa một loại vi khuẩn tiết ra một chất màu vàng kim loại. Chất thuốc nầy có khả năng tiêu diệt nhiều thứ vi trùng mà chính penicillin cũng chịu thua. Thuốc được đặt tên là Aureomycin (Aurum theo tiếng latin có nghĩa là kim loại vàng). Công thức hóa học của Aureomycin là chlortetracycline, chính là tiền thân của các loại thuốc tetracyclin hay doxycyclin ngày nay.

Cũng trong thời gian nầy, sau Thế Chiến Thứ 2, để cung ứng cho nhu cầu thực phẩm, những trại chăn nuôi gà theo kiểu công nghiệp bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Người ta tìm mọi cách để thúc cho gà nuôi chóng lớn, tăng cân và đẻ nhiều trứng, nhưng không có kết quả hữu hiệu. Lại tình cờ, khi chữa bệnh cho gà, công ty Merck khám phá ra rằng thuốc trụ sinh streptomycin khi trộn với thức ăn cho gà, cho dù không cần tăng nguồn thức ăn, sẽ làm cho gà tăng cân mau chóng. Lý do, một sản phẩm phụ của thuốc streptomycin chính là vitamin B12.

Vì thuốc Aureomycin có cấu trúc tương tự như streptomycin, năm 1948, một khoa học gia tên Thomas Jukes, làm việc cho hãng Lederle, để cạnh tranh, tiến hành một cuộc thử nghiệm thuốc Aureomycin, cho trộn vào thức ăn của gà. Kết quả cho thấy những con gà được “cho ăn” thuốc trụ sinh tăng cân nhiều hơn. Những cuộc thí nghiệm tương tự trên các loại gia cầm khác cũng cho thấy kết quả tương tự.

Mặc dù thuốc Aureomycin được đăng ký là thuốc trụ sinh cho người, nhưng lại ghi là “thuốc bổ” cho gà và gia súc. Kể từ đó thuốc Aureomycin (chlortetracycline) được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong công nghiệp nuôi súc vật để lấy thịt. Một phần làm cho thú vật chóng lớn, phần khác để phòng ngừa bệnh tật khi mà súc vật được nuôi chen chúc trong những chuồng trại chật hẹp.

Không riêng gì thú vật, khoảng giữa thập niên 1950’s người ta bắt đầu tiến hành những cuộc thí nghiệm “bán chính thức” trong con người, ở những nước nghèo như Guatemala và Kenya. Bằng cách cho trẻ em còm cõi “ ăn” thêm thuốc trụ sinh, người ta thấy hiện tượng tương tự, các trẻ con nầy tăng cân mau chóng. Thế là, người ta bắt đầu trộn, ngâm thuốc trụ sinh vào thịt cá được bày bán ở các siêu thị. Thuốc trụ sinh được bán không cần toa, trộn luôn vào kẹo chewing gum, kem đánh răng, nước súc miệng, thậm chí son môi thời ấy cũng có thuốc trụ sinh!

Ngày nay thuốc Aureomycin và nhiều loại trụ sinh khác vẫn được tiếp tục sử dụng trong “kỹ nghệ chăn nuôi”, kể cả hải sản tôm cá nuôi trong lồng. Bạn có thể Google tìm mua thuốc Aureomycin trên mạng internet với giả rẻ mạt, $15 dollar một pound. Đó là giá bán lẻ, còn giá bán sỉ cho trại chăn nuôi còn rẻ hơn bội phần.

Vấn đề là thuốc trụ sinh đi theo nguồn thức ăn thâm nhập vào cơ thể con người. Nghiên cứu cho thấy, thuốc trụ sinh vẫn còn tác dụng làm tăng cân, gây béo phì. Sử dụng thuốc trụ sinh lâu dài sẽ giết hại những con vi khuẩn tốt trong đường ruột. Có hàng nghìn tỉ vi khuẩn tốt sống ký túc trong ruột già của chúng ta. Những con vi khuẩn nầy giúp chống bệnh tật vì chúng cạnh tranh với những con vi trùng khác, giúp giảm nguy cơ bị bệnh tiểu đường và béo phì bằng cách giảm sự thẩm thấu của đường vào mạch máu, và nhiều hiệu ứng tốt khác. Một khi lượng vi khuẩn tốt bị giệt chủng, những con vi trùng độc sẽ bùng phát. Thí dụ như vi trùng C. difficile làm tiêu chảy kinh niên, mà cách chữa trị có khi phải cấy ghép phân của người mạnh khoẻ.

Có một điều khác mà người ta đã coi thường đó là sự lờn thuốc trụ sinh. Ngay từ thập niên 1940’s, chính ông Fleming, “cha đẻ” của thuốc trụ sinh cũng đã lên tiếng về khả năng bị lờn thuốc do sự lạm dụng.

Thuốc penicillin có tác dụng ngăn chận không cho vi trùng xây dựng được màng tế bào của chúng được vững chắc. Khi màng tế bào yếu, những vi trùng dễ bị vỡ và chết. Hiệu ứng này về lâu về dài, vi trùng tìm cách biến hoá để chống lại thuốc.

Trong nhiều năm qua, vi trùng đã lờn thuốc, rất nhiều loại thuốc đời con, đời cháu và đời chắt, bà con nội ngoại của thuốc penicillin đã lần lượt ra đời. Sớm nhất vào năm 1961 như Ampicillin, Amoxicillin, rồi Methicillin, Nafcillin, Oxacillin, Cloxacillin, Dicloxacillin, Flucloxacillin, đến Carbenicillin, Ticarcillin, Temocillin, và Mezlocillin. Cuối cùng là Piperacillin, Clavulanic acid, Sulbactam, Tazobactam… Ôi thôi đủ thứ!

Gần đây các cơ quan chức năng ý tế đã không ngừng lên tiếng cảnh báo về nguy cơ bị lờn thuốc. Sẽ có một ngày, không có thuốc kháng sinh nào trên trái đất nầy có thể diệt được vi khuẩn! Thế là hết thuốc chữa!

Một phần có thể vì không có biên giới giữa thuốc dùng cho súc vật và loài người, phần khác chính con người cũng lạm dụng thuốc bừa bãi. Ngày nay gần 70% vi trùng có thể ảnh hưởng đến cả người lẫn súc vật.

Hiện tại các bác sĩ cho người lẫn thú y đuợc khuyến cáo nên hạn chế sử dụng thuốc trụ sinh. Riêng về nghành chăn nuôi, các nghiên cứu được thúc đẩy để bớt sử dụng thuốc trụ sinh với mục tiêu thúc đẩy tăng cân.

Trở lại với cuối thập niên năm 1950’s ở tại một làng quê hẻo lánh miền Trung Việt Nam, có một em bé khoảng 5 tháng tuổi bị sốt hôn mê suốt hơn 10 ngày và thường bị làm kinh phong liên tục cho dù đã được “thầy lang” chữa trị bằng tàn nhang và nước lạnh có pha tro đốt từ bùa ngải. Không thể để mất con, mẹ của em bé bèn lặn lội đón tàu lửa, mang em vào Bệnh Viện Trung Ương Huế để được chữa trị. Một bác sĩ người Pháp đã chẩn bệnh cho bé là bị sưng màng óc (meningitis), và cho uống thuốc trụ sinh bột có màu vàng kim loại. Sau năm ngày thuốc, em bé tỉnh hẳn và được cho xuất viện. Những viên thuốc đã cứu sống đứa bé ấy có tên là Aureomycin, loại thuốc mà ngày nay được bán rất rẻ tiền để thúc cho gia súc mau lớn tăng cân. Còn đứa bé ấy, hôm nay, chính là người đang viết bài nầy, kể “chuyện cổ tích” về thuốc trụ sinh!



23306



Image


N G Ă N. N G Ừ A .R Ụ N G .T Ó C
____________________________________________________________________________
b s . h ồ n g ọ c m i n h



Thường thì đến độ tuổi 50 trở đi, khoảng 50% đàn ông và 25% phụ nữ sẽ có vấn đề với chuyện rụng tóc. Sự rụng tóc xảy ra mỗi ngày. Một số tóc rơi rụng sau khi tắm, sau khi sấy tóc, và sau khi chải đầu là chuyện thường. Trung bình mỗi ngày chúng ta mất đi khoảng 50 đến 100 cọng tóc. Những sợi tóc rụng mất sẽ được thay thế bởi những sợi tóc non mới. Khi tuổi hạt càng tăng, tế bào chân tóc sẽ mất lần làm cho mái tóc thưa dần đi.

Tuy nhiên khi sự rụng tóc xảy ra hàng loạt khiến mái tóc bị thưa hay hói có thể vì những lý do sau đây:

1. Chu kỳ tóc mọc và rụng đồng bộ, gọi là Telogen Effluvium.

Mái tóc mọc ra từ những chân tóc, và không mọc cùng một lúc. Những chu kỳ, mọc và rụng tóc, không đồng bộ với nhau, có cọng rụng đi và nghỉ xả hơi, trong khi cọng bên cạnh làm việc thay phiên. Vì một lý do nào đó làm hư hại các chân tóc nầy hay làm cho chu kỳ mọc tóc bị xáo trộn như mọc và rụng cùng một lúc, sẽ gây ra tình trạng hói đầu vì rụng tóc đồng bộ.

Telogen Effluvium xảy ra sau khi sanh đẻ, bị mổ xẻ, bị xuống cân nhiều, hoặc bị stress kinh niên.

Tương tự như khi có thai, một số thuốc ngừa thai, hay thay đổi hormone trong tuổi nghỉ kinh cũng làm cho hói tóc. Khi ngừng uống thuốc ngừa thai sau một thời gian uống khá lâu, cũng làm cho bị mất tóc.

Một số phản ứng phụ của thuốc như thuốc an thần chống trầm cảm, thuốc tim mạch beta-blockers, thuốc giảm đau NSAIDs Motrin (ibuprofen) cũng gây ra rụng tóc.

2. Rụng tóc vì lý do di truyền.

Rụng tóc có thể vì lý do di truyền, gọi là androgenetic alopecia, là lý do gây ra rụng tóc nhiều nhất, 95% phái nam, và trên 40% phái nữ. Đàn ông thường bị hói, còn phụ nữ đa phần chỉ bị thưa tóc.

Người có triệu chứng rụng tóc thừa hưởng một gene từ cha hay mẹ hoặc cả hai, gene nầy làm cho chân tóc nhạy cảm với hormone nam giới khiến cho chân tóc bị teo đi. Dấu hiệu thường thấy trong gia đình, ai cũng ít tóc, hói tóc, cha mẹ, anh chị, bị rụng tóc sớm là do lý do di truyền.

Mất tóc có thể vì nhạy cảm hay có nhiều hormone nam giới. Phụ nữ sau tuổi nghỉ kinh, tỉ lệ hormone nam giới cao hơn, làm mất tóc nhiều hơn.

Phụ nữ có thể dùng kem Rogaine, còn đàn ông có khi phải dùng thuốc finasteride (Propecia). Tuy nhiên thuốc finasteride có thể gây ra liệt dương.

3. Suy tuyến giáp (Hypothyroidism)

Hàng triệu người, hầu hết là phụ nữ, bị suy tuyến giáp. Hormone của tuyến giáp (thyroid hormone) giúp ta điều hòa sức nặng qua việc tiêu thụ thức ăn và biến thành năng lượng, và còn hỗ trợ cho việc tăng trưởng của da, tóc, móng tay, móng chân. Yếu tuyến giáp làm cho tóc bị thưa.

4. Bệnh thiếu máu

Phụ nữ mất máu nhiều vì kinh nguyệt sẽ bị thưa tóc. Có thể cần thêm thuốc bổ máu có chất sắt, trung bình phụ nữ đang còn kinh, cần khoảng 18 mg chắt sắt, và sau khi mãn kinh thì 8 mg cho mỗi ngày.

Ăn uống thiếu thốn, thiếu chất đạm protein, thường xảy ra cho người ăn chay trường. Thiếu máu kinh niên cũng làm cho bạn mất tóc. Diet, giảm cân quá nhanh vì muốn giảm vòng eo cũng làm cho rụng tóc. Nên cẩn thận và điều chỉnh.

5. Bệnh đa nang buồng trứng (polycystic ovarian syndrome, PCOS).

Phụ nữ bị hội chứng nầy do bị mất cân bằng về lượng hormone nam giới cao hơn bình thường. PCOS là một trong những nguyên nhân làm cho sự rụng trứng không đều hòa, gây ra hiếm muộn. Thuốc ngừa thai hay thuốc spironolactone (Aldactone) giảm bớt lượng hormone nam hay giảm ảnh hưởng của hormone nam sẽ giảm bớt sự rụng tóc.

6. Một số bệnh về hệ thống đề kháng của cơ thể.

Bệnh auto-immune Lupus là một bệnh gọi là overactive auto-immune system khi mà hệ thống miễn nhiễm của bạn không còn phân biệt được bạn thù, sẽ tìm cách phá, diệt các chân tóc.

7. Các bệnh ung thư cần đến hóa học trị liệu.

8. Chăm sóc tóc quá độ.

Sử dụng quá nhiều thuốc gội đầu, uốn tóc, hay nhuộm tóc có thể hại đến chân tóc. Sấy tóc quá nóng, hay những hóa chất có thể giết hại chân tóc. Khi sử dụng máy sấy tóc nên để nhiệt độ thấp hay để mát, và không nên nhuộm tóc nhiều màu, nhiều lần, nhiều hóa chất.

Uốn tóc nhiều quá, nhất là khi chân tóc bị xoắn tít lại theo kiểu ưa chuộng của người Mỹ da đen. Tránh bứt tóc, tự nhổ tóc khi buồn buồn, ngồi không có chuyện gì làm, hay khi có chuyện bực tức.

Nói cho đúng ra, gội đầu nhiều không phải là nguyên nhân gây ra rụng tóc, chỉ khi nào dùng thuốc gội đầu quá nhiều mà thôi. Sấy tóc quá nóng có thể tạm thời làm hư hại chân tóc, nhưng hầu hết sẽ bình phục, miễn là đừng lạm dụng thường xuyên. Ngoài ra keo xịt tóc không làm cho rụng tóc.

Hói tóc không phải là một vấn đề chỉ xảy ra với thế giới văn minh hiện nay mà là một vấn nạn có từ ngàn xưa khi mà con người biết chăm sóc sắc đẹp.

Văn tự y học Ebers Papyrus của người Ai Cập 1500 năm trước công nguyên đã ghi chép phương cách chống rụng tóc bằng cách thoa mỡ của hà mã, cá sấu, dê rừng ibex, hay mèo đực lên da đầu. Thời đó, tóc giả và râu giả cũng rất thịnh hành.

Ông tổ của Tây Y, Hippocrates, cá nhân cũng có vấn đề với hói tóc. Ông đã tự chữa bệnh cho mình bằng một loại thuốc trộn từ thuốc phiện, phân chim bồ câu, củ cải đường, và một số gia vị. Dĩ nhiên là thuốc không có hiệu ứng gì cả. Khi để ý những người bị thiến hoạn tuy thưa râu nhưng không bị rụng tóc, ông bèn nghĩ ra cách chữa trị bằng cách thiến hoạn (hình như không phải cho chính mình theo kiểu Nhạc Bất Quần). Dựa theo các nghiên cứu gần đây, suy luận của ông là đúng, vì sự hói tóc xảy ra khi da đầu nhạy cảm với hormone nam giới.

Hoàng Đế La Mã Julius Caesar cũng có vấn nạn hói tóc. Người tình của ông, Nữ Hoàng Cleopatra đã bôi lên đầu chàng một loại thuốc trộn từ xác chuột xay nhuyễn, trộn với bột răng ngựa và mỡ gấu. Dĩ nhiên là không có kết quả, vì thế ngài Julius Caesar đã mang vương miện vòng nguyệt quế (laurel wreath) lên đầu…cho oai.

Ngày nay, ngoài những loại thuốc giảm sự rụng tóc đã nêu trên, ta có thể ngăn ngừa hay làm giảm bớt tốc độ rụng tóc. Thứ nhất là giảm stress, kế đến là ăn uống đầy đủ dinh dưỡng về chất sắt, chất kẽm, và không nên cử chất béo nhiều quá. Thật ra uống nhiều thuốc bổ thí dụ như vitamin A, vitamin E, and selenium, có thể làm cho rụng tóc nhiều hơn.

Như thế một số nguyên do gây ra sự rụng tóc, bạn có thể tự kiểm tra và điều chỉnh được, hay đơn giản là đợi cho cơ thể tự điều chỉnh lấy. Những lý do khác, bạn có thể cần đến sự giúp đỡ của bác sĩ. Đa số trường hợp, thuốc men có thể giúp, tuy một số ít có thể cần đến bác sĩ giải phẫu làm phẫu thuật cấy tóc, hair transplant, thậm chí có khi cần, mang tóc giả cũng là một cách giải quyết vấn đề.


23389 top -
kiến thức Y KHOA
1, 2
_______________________________________________
Mùa Xuân Không Đến - thơ - Hoài Yên _______________________________________________

Image

trong hơi thở
đá nằm
nghe lạnh quá
hồn phong linh
quạnh quẽ
tiếng rung buồn.

xem tiếp...

_______________________________________________
Cây Hoàng Hậu - văn - Nguyễn Thị Bạch Vân _______________________________________________

Image

Con người sinh ra ai cũng muốn có cái quyền nói lên tiếng nói của chính mình. Tại sao một đứa bé vừa rời lòng mẹ lại khóc oe oe? Tại sao không cần chỉ hít vào lồng ngực một luồng không khí là buồng phổi tự động nở ra mà phải khóc thét lên một tiếng? Phải chăng tiếng khóc của đứa trẻ sơ sinh ấy cũng như một tiếng nói của riêng nó hầu nhấn mạnh sự có mặt của nó trên cuộc đời này.

xem tiếp...

_______________________________________________
Gánh Mẹ - nhạc - Thúc Sinh _______________________________________________

Image

Mẹ ơi sóng biển dạt dào,
Con sao gánh hết công lao một đời.
Bông hồng cài áo đúng nơi,
Đâu bằng bông hiếu giữa trời bao la.
Cho con gánh lại mẹ già,
Để sau người gánh chính là con con...
Cho con... gánh cả đôi vai,
Thân cò lặn lội sớm mai vai gầy.

xem tiếp...

_______________________________________________
Mùa Xuân Trong Mắt Em - tranh - Ngọc Thể _______________________________________________

Image



xem tiếp...